×

Giỏ hàng

24   2026-05-29 07:01:57

TRÙNG TU NGÔI NHÀ CHUNG

VÀ XÂY DỰNG “CÁI CHÚNG TA”:

ƠN GỌI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

Antôn Phêrô NGUYỄN MINH CẢNH

Khoá XIX [2018 - 2026] - ĐCV Sao Biển Nha Trang

Hướng dẫn Tiểu luận: L.m Phêrô Trần Ngọc Anh

Tiểu luận Tốt nghiệp Thần học 2025 - 2026

 

MỤC LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DẪN NHẬP

CHƯƠNG I: HIỆN TRẠNG HÔM NAY

1. Khủng hoảng môi sinh

1.1 Vấn đề ô nhiễm môi trường

1.1.1 Không khí

1.1.2 Nước

1.2 Vấn đề biến đổi khí hậu

1.2.1 Nguyên nhân

1.2.2 Biểu hiện

1.2.3 Hậu quả

2. Khủng hoảng tình liên đới

2.1 Sự mong manh của phẩm giá con người

2.2 Sự bất bình đẳng sâu sắc trong xã hội

RIÊNG TẠI VIỆT NAM

1. Khủng hoảng môi sinh

1.1 Ô nhiễm không khí

1.2 Ô nhiễm nguồn nước

2. Khủng hoảng tình liên đới

CHƯƠNG II: TRÙNG TU NGÔI NHÀ CHUNG 
THEO THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

1. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng sinh thái: Cội rễ nhân học và văn hóa

1.1 Công nghệ và sự thống trị của Mô hình Kỹ trị

1.2 Chủ trương “Quy nhân luận hiện đại” và sự lệch lạc căn bản

1.2.1 Chủ nghĩa khai thác vô giới hạn và sự hiểu lầm Kinh Thánh

1.2.2 Chủ nghĩa Tương đối thực hành

1.3 Hệ quả điển hình: Văn hóa Vứt bỏ

2. Nền sinh thái học toàn diện

2.1 Sinh thái học toàn diện là gì?

2.2 Các chiều kích của sinh thái học toàn diện

2.2.1 Sinh thái học môi trường, kinh tế và xã hội

2.2.2 Sinh thái học văn hóa

2.2.3 Sinh thái học đời sống thường nhật

2.2.4 Nguyên tắc công ích và công bằng giữa các thế hệ

3. Hướng trùng tu mới cho Ngôi nhà chung: Từ hoán cải đến đối thoại

3.1 Hoán cải sinh thái: Hành trình biến đổi toàn diện

3.2 Đối thoại sinh thái: Kiến tạo những cấu trúc mới

3.2.1 Đối thoại trong các chính sách quốc tế

3.2.2 Đối thoại trong chính trị và kinh tế quốc gia

3.2.3 Đối thoại giữa Tôn giáo và Khoa học

CHƯƠNG III: TÁI XÂY DỰNG “CÁI CHÚNG TA” 
THEO THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI

1. Nguyên nhân của sự tan vỡ “Cái Chúng ta”: Bóng mây đen của thời đại

1.1 Những giấc mơ vỡ vụn trong thời đại toàn cầu hóa

1.2 Văn hóa vứt bỏ và sự loại trừ phẩm giá

2. Nền tảng nhân học và thần học: Tình yêu xã hội và tình huynh đệ đại đồng

2.1 Mầu nhiệm người lạ bên vệ đường

2.2 Con người - Hữu thể của sự mở ra

3. Cách thức xây dựng “Cái Chúng ta”: Từ chính trị tốt đến văn hóa gặp gỡ

3.1 Một nền chính trị tốt

3.1.1 Phục hồi ý nghĩa của chính trị

3.1.2 Con đường mới: Không Dân túy, không chủ nghĩa Tự do cá nhân

3.1.3 Tình yêu hữu hiệu: Tình thương và Định chế

3.2 Đối thoại và Tình bạn xã hội: Kiến tạo văn hóa gặp gỡ

3.2.1 Đối thoại trong chân lý

3.2.2 Nghệ thuật gặp gỡ và kiến tạo hòa bình

3.2.3 Lòng nhân hậu và sự tử tế: Phép lạ giữa đời thường

3.3 Lộ trình kiến tạo hòa bình bền vững: Sự thật, Công lý và Tha thứ

3.3.1 Sự thật và Công lý: Điều kiện tiên quyết của Hòa bình

3.3.2 Sự tha thứ và Ký ức

CHƯƠNG IV: ƠN GỌI KITÔ HỮU TRONG VIỆC
TRÙNG TU NGÔI NHÀ CHUNG VÀ XÂY DỰNG LẠI “CÁI CHÚNG TA”

1. Những đặc trưng của ơn gọi Kitô hữu

1.1 Cộng tác vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa  cách ý thức và tích cực

1.2 Người Kitô hữu được gọi để “ở giữa” chứ không “đứng ngoài”

1.3 Một ơn gọi mang tính chứng tá

2. Sống ơn gọi Kitô hữu cách cụ thể tại Việt Nam

2.1 Thực trạng ở Việt Nam: hai cuộc khủng hoảng chồng lên nhau

2.1.1 Khủng hoảng môi sinh

2.1.2 Khủng hoảng nhân sinh

2.2 Đường hướng mục vụ cho giáo dân Việt Nam

2.2.1 Với chính mình: hoán cải lối sống

2.2.2 Với tha nhân: chữa lành “Cái Chúng ta” trong cộng đoàn

2.2.3 Với thiên nhiên: từ “sử dụng” sang “chăm sóc”

2.2.4 Với Thiên Chúa: tái nối môi sinh với đức tin

KẾT LUẬN

THƯ MỤC THAM KHẢO

 

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt           Tên đầy đủ

CĐ                  Công đồng

DT                  Thông điệp Dilexi Te (2025)

FT                   Thông điệp Fratelli Tutti (2020)

GS                   Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (Vatican II)

HĐGMVN     Hội đồng Giám mục Việt Nam

LD                  Tông huấn Laudate Deum (2023)

LS                   Thông điệp Laudato Si’ (2015)

UN                  Tổ chức Liên hợp quốc (United Nations)

UNICEF         Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations Children's Fund)

WHO              Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

DẪN NHẬP

        Chúng ta đang sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nơi nhân loại phải đối diện với những nghịch lý đau lòng của sự tiến bộ. Chưa bao giờ con người đạt được những thành tựu đỉnh cao về khoa học kỹ thuật như hiện nay, nhưng cũng chưa bao giờ chúng ta chứng kiến sự rạn nứt sâu sắc trong mối tương quan của con người với thiên nhiên và với chính đồng loại của mình. Thực trạng đáng buồn về một môi sinh bị tàn phá khốc liệt và một tình liên đới nhân loại đang đầy những triệu chứng bệnh hoạn không còn là những khái niệm xa xôi trên mặt báo, chúng đã trở thành nỗi đau hiện sinh mà mỗi người chúng ta đang trực tiếp trải qua hằng ngày. Đứng trước thực trạng đó, một câu hỏi cấp thiết được đặt ra: Liệu nhân loại có thể tiếp tục tồn tại và phát triển khi Ngôi nhà chung đang tan rã và liệu “Cái Chúng ta” đang bệnh hoạn đó có thể được chữa lành không?

Trước những thách đố ấy, Đức Thánh Cha Phanxicô, lấy nguồn cảm hứng từ tám thế kỷ trước: Thánh Phanxicô Assisi (1182-1226), đã ban hành Thông điệp Laudato Si’ (2015) để kêu gọi mọi người trùng tu lại Ngôi nhà chung. Thật thú vị: trong quá trình học tập, tôi tình cờ gặp được François Euvé, một nhà thần học Dòng Tên. Euvé cho thấy Thông điệp Laudato Si’ có mối quan hệ mật thiết với Thông điệp Fratelli Tutti, ban hành năm 2020 của ngài. Qua hai Thông điệp này, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người hãy cùng nhau hành động vì một nhân loại tốt đẹp hơn. Hai Thông điệp mang tính ngôn sứ này của ngài không chỉ mượn tiêu đề từ những lời dạy của thánh Phanxicô, mà còn là sự tái hiện linh đạo của thánh nhân cho thời đại hôm nay. Bởi vì những gì Ngài đã sống - một sự hòa hợp tuyệt vời giữa con người với mọi thụ tạo và tình huynh đệ không biên giới - là phương dược hữu hiệu cho một thế giới đang bị tổn thương.

Qua đề tài TRÙNG TU NGÔI NHÀ CHUNG VÀ TÁI THIẾT “CÁI CHÚNG TA”: ƠN GỌI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU, tôi muốn cho thấy những gì Đức Thánh Cha Phanxicô nêu lên trong hai Thông điệp không chỉ là những giải pháp kỹ thuật và luân lý mang tầm vóc thế giới, mà hơn thế nữa, đó chính là sự cụ thể hóa ơn gọi cốt yếu của người Kitô hữu - trong tư cách là người cộng sự của Thiên Chúa - nhằm chữa lành các mối tương quan đổ vỡ để hoàn tất công trình sáng tạo của Thiên Chúa đang tiếp diễn trên thế giới và ngay tại đất nước Việt Nam hôm nay. Trong tiểu luận này, dựa vào suy tư của thần học gia François Euvé, tôi tìm thấy cách thế để đưa những suy tư và linh đạo mà Đức Thánh Cha gợi mở vào trong cuộc sống hiện đại. Dưới nhãn quan của thần học gia này, thế giới không phải là một sản phẩm tĩnh tại, mà là một công trình sáng tạo đang tiếp diễn. Đồng thời, thần học gia này cũng nhấn mạnh rằng sự tàn phá môi sinh và sự suy thoái tình liên đới là một cuộc khủng hoảng duy nhất: sự tàn phá thiên nhiên chính là sự phóng chiếu ra bên ngoài của một cuộc rạn nứt tâm linh bên trong con người.

Để làm rõ đề tài trên, tôi sẽ triển khai qua bốn phần:

-  I. Hiện trạng hôm nay: Một cái nhìn khách quan và đầy âu lo về những vết thương sinh thái và xã hội đang hiện diện trên quy mô toàn cầu và đặc biệt tại Việt Nam.

-  II. Trùng tu Ngôi nhà chung theo Thông điệp Laudato Si’: Truy tìm cội rễ của cuộc khủng hoảng để từ đó đề xuất lộ trình hoán cải sinh thái toàn diện.

-  III. Tái xây dựng “Cái Chúng ta” theo Thông điệp Fratelli Tutti: Khám phá tình huynh đệ đại đồng và văn hóa gặp gỡ như phương dược nền tảng chữa lành những rạn nứt và sự dửng dưng hóa toàn cầu.

-  IV. Ơn gọi và sứ mạng người Kitô hữu: Hiện thực hóa chứng tá dấn thân của người Kitô hữu và mục tử trong bối cảnh cụ thể của Giáo hội và xã hội Việt Nam.

Việc chọn lựa hai Thông điệp này cho bài tiểu luận mang một ý nghĩa đặc biệt đối với tôi. Nêu bật tầm nhìn ngôn sứ sâu sắc của tác giả cũng là để tri ân đối với Đức Thánh Cha Phanxicô, vị Mục tử đã dành trọn cuộc đời, cách đặc biệt là trong suốt triều đại Giáo hoàng của ngài, để lắng nghe tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo. Tôi xem những định hướng của ngài như kim chỉ nam cho đời sống mục vụ của tôi sau này.

Cuối cùng, tiểu luận này không chỉ là kết quả của những nỗ lực truy tầm tri thức, mà còn là hành trình hoán cải tâm linh. Trong quá trình biên soạn, từ việc nhìn nhận thế giới như một công trình đang tiến tới hoàn thành, tôi thấy mình được thôi thúc để bước ra khỏi sự an toàn cá nhân, dấn thân trở thành một trong những “người thợ thủ công của hòa bình” góp phần dệt nên một tương lai hy vọng cho Ngôi nhà chung và gia đình nhân loại.

CHƯƠNG I
HIỆN TRẠNG HÔM NAY

 1. Khủng hoảng môi sinh

Năm 2015, trước nguy cơ nhiệt độ toàn cầu vượt quá mức 20C và những hậu quả không thể đảo ngược, Hội nghị thượng đỉnh khí hậu COP 21 đã diễn ra ở Paris với sự tham gia của 195 quốc gia (194 quốc gia cùng với liên minh Châu Âu). Trong Hội nghị này, lời kêu gọi “hãy cứu lấy hành tinh xanh” vang lên với mức độ khẩn thiết chưa từng có.[1] Các phát biểu tại Hội nghị (đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon[2] và tổng thống Mỹ Barack Obama[3]) và của Đức Thánh Cha Phanxicô (với thông điệp Laudato Si’, 2015) đều vang lên cùng một điệp khúc: chúng ta không có kế hoạch B, vì không có hành tinh B. Vấn đề môi trường trở thành vấn đề sống còn của nhân loại. Tuy nhiên, sau mười năm kể từ khi Hiệp định được ký kết, các vấn đề đó không những chưa được cải thiện, mà còn trở nên nghiêm trọng và cấp bách hơn bao giờ hết.

1.1.  Vấn đề ô nhiễm môi trường

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học – kỹ thuật, tốc độ đô thị hóa, cùng hoạt động của các ngành công nghiệp và giao thông đã khiến môi trường toàn cầu bị ô nhiễm nghiêm trọng. Một trong những biểu hiện cụ thể và dễ nhận thấy nhất đó là ô nhiễm không khí và nước.

1.1.1.  Không khí

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một thực tế đáng lo ngại là 99% dân số toàn cầu đang phải hít thở bầu không khí ô nhiễm vượt quá mức giới hạn cho phép. [4] Từ những làn khói công nghiệp tàn khốc, khí thải giao thông cho đến những vụ cháy rừng dữ dội, con người đang vô hình trung tự đầu độc không gian sinh tồn của chính mình. [5]

Thảm trạng này không còn là vấn đề riêng của các quốc gia nghèo, mà đã trở thành một cuộc khủng hoảng không biên giới. Ngay cả những cường quốc phát triển nhất như Hoa Kỳ cũng đang phải bất lực chứng kiến bầu trời của mình bị che phủ bởi bụi mịn và độc tố. [6]

1.1.2.  Nước

Bên cạnh không khí, nước là yếu tố thiết yếu duy trì sự sống, nhưng hiện nay nhân loại đang đối diện với một cuộc khủng hoảng nước trầm trọng. Từ những sự cố tràn dầu, chất thải công nghiệp, đến sự xâm lấn của rác thải nhựa và các hóa chất nông nghiệp, nguồn nước đang bị biến thành nơi chứa đựng lòng tham và sự dửng dưng của con người.[7]

Thực trạng này không chỉ là một vấn đề kỹ thuật mà là một sự bất công xã hội sâu sắc. Theo thống kê, hiện có khoảng 2,2 tỷ người chưa được tiếp cận các dịch vụ nước sạch an toàn. Đau xót hơn, cứ ba trẻ em thì có một em đang phải lớn lên tại các khu vực chịu áp lực khốn cùng về nước. [8]

Khi dòng sông không còn chảy và giếng cạn khô, nước không còn là quà tặng của tạo hóa mà trở thành nguồn cơn của di cư và xung đột tài nguyên. [9] Việc đầu độc nguồn nước chính là đầu độc tương lai của nhân loại, đặc biệt là những cộng đồng yếu thế vốn không có khả năng tự bảo vệ mình trước cơn thủy nạn của ô nhiễm.

1.2  Vấn đề biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu không còn là một dự báo xa xôi mà đã trở thành thực tại khắc nghiệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của nhân loại. Như Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh báo, “những dấu hiệu của biến đổi khí hậu vẫn hiển hiện và ngày càng rõ ràng,” đòi hỏi một sự thức tỉnh lương tâm toàn cầu.[10]

1.2.1. Nguyên nhân

Con người, với lối sống tiêu dùng và khai thác quá mức, chính là tác nhân chính đẩy trái đất vào vòng xoáy bất ổn. Sự gia tăng không ngừng của các loại khí thải nhà kính (như CO₂, CH₄, N₂O, CFCs) từ hoạt động công nghiệp và đô thị hóa đã tạo nên một “tấm chắn” nhiệt ngột ngạt bao quanh trái đất.[11]

Đặc biệt, nạn phá rừng tàn khốc đang làm cho “lá phổi xanh” của hành tinh dần bị hủy hoại nghiêm trọng. Chỉ riêng trong năm 2024, thế giới đã mất đi khoảng 6,7 triệu hecta rừng nguyên sinh nhiệt đới, khiến khả năng hấp thụ CO₂ bị suy giảm nghiêm trọng, đồng thời đẩy hệ sinh thái vào tình trạng kiệt quệ.[12]

1.2.2. Biểu hiện

Biểu hiện rõ rệt nhất là nhiệt độ toàn cầu đang tăng với tốc độ nhanh nhất trong vòng hai thiên niên kỷ qua.[13] Hiện nay, nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 1,10C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900), dẫn đến hiện tượng băng tan và mực nước biển dâng trung bình 3,3 mm mỗi năm.[14]

Sự nóng lên này không chỉ là những con số trên biểu đồ, mà được cụ thể hóa bằng tần suất dày đặc của các thảm họa khí hậu. Chỉ trong năm 2024, thế giới đã ghi nhận hơn 150 thảm họa nghiêm trọng, từ những đợt nắng nóng kỷ lục đến lũ quét và hạn hán kéo dài, tàn phá mọi nỗ lực ổn định cuộc sống của con người.[15]

1.2.3   Hậu quả

Hậu quả trực tiếp của biến đổi khí hậu là cuộc khủng hoảng an ninh lương thực đang đe dọa hàng trăm triệu người trên thế giới. Năm 2024, khoảng 295,3 triệu người phải đối mặt với tình trạng bất an lương thực cấp tính, cho thấy sự mong manh của cuộc sống con người trước sự giận dữ của thiên nhiên.[16] Không dừng lại ở đó, biến đổi khí hậu đang đẩy hàng loạt loài sinh vật vào nguy cơ tuyệt chủng và gây ra cái chết của hàng triệu người mỗi năm do ô nhiễm và thời tiết cực đoan.[17]

Sự khẩn thiết phải bảo vệ môi trường không còn là vấn đề riêng của bất kỳ quốc gia nào, mà là trách nhiệm đạo đức và thiêng liêng của toàn nhân loại. Phục hồi mối tương quan hài hòa với thiên nhiên chính là cách duy nhất để Trái đất tiếp tục là Ngôi nhà chung cho các thế hệ mai sau.

2. Khủng hoảng tình liên đới

Thế giới hôm nay đang bị bao phủ bởi những “bóng mây đen” của một nhân loại chia rẽ. Chiến tranh, bạo lực, và nghèo đói không chỉ là những thực tại rời rạc, mà là những mắt xích đan xen, làm dày thêm bóng tối của sự bất an. Mặt trái của toàn cầu hóa đang khiến chủ nghĩa tiêu thụ thâm nhập sâu sắc vào đời sống. Sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân và nạn gian dối lan tràn đang dần làm nguội lạnh tình liên đới, biến con người từ anh chị em thành những người xa lạ, thậm chí là đối thủ của nhau.

2.1  Sự mong manh của phẩm giá con người

Chưa bao giờ giá trị của phẩm giá con người lại trở nên mong manh như hiện nay dưới sức ép của những xung đột vũ trang và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chiến tranh không chỉ tàn phá hạ tầng mà còn là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến nạn đói hàng loạt, đẩy hàng trăm triệu người vào cảnh tuyệt vọng.[18]

Sự mong manh này được phơi bày qua những con số biết nói: hàng triệu người phải rời bỏ quê hương để chạy trốn bạo lực hoặc đàn áp. Cứ 69 người trên thế giới thì có một người bị buộc phải di dời - một thực cảnh “bị bật rễ” đầy đau xót, nơi trẻ em chiếm một phần lớn trong dòng người vô định ấy.[19]

Bên cạnh đó, nhân loại vẫn đang phải đối mặt với những hình thức nô lệ hiện đại: từ buôn người, lao động cưỡng bức đến bóc lột tình dục.[20] Đặc biệt, bạo lực tình dục liên quan đến xung đột đang gia tăng như một thứ vũ khí tàn nhẫn, tước đoạt nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em gái ngay trong các trại tị nạn - nơi lẽ ra phải là bến đỗ an toàn.[21]

2.2  Sự bất bình đẳng sâu sắc trong xã hội

Toàn cầu hóa mang chúng ta lại gần nhau về kinh tế, nhưng lại đẩy tâm hồn chúng ta ra xa nhau. Nền kinh tế thế giới chi phối bởi lợi nhuận đã tạo ra những bất công trong cấu trúc, nơi người giàu càng giàu thêm còn người nghèo lại bị đẩy vào thế phụ thuộc. Sự bất bình đẳng này không chỉ là vấn đề vật chất, mà còn là cuộc khủng hoảng của tình huynh đệ: thay vì mở rộng vòng tay, nhiều quốc gia lại chọn cách xây dựng những “bức tường” - cả hữu hình lẫn vô hình - do nỗi sợ hãi và lòng ích kỷ điều hướng.

Trong một thế giới bị cuốn vào vòng xoáy tiêu dùng, các phương tiện kỹ thuật số đôi khi lại khiến con người trở nên cô lập hơn trong “thế giới riêng” của mình. Chúng ta kết nối nhiều nhưng lại hiện diện ít. Đức Thánh Cha Phanxicô đã chỉ rõ rằng đại dịch Covid-19 chính là một “phép thử” nghiệt ngã, phơi bày sự mong manh của chúng ta và cho thấy những người nghèo, người già, và người di dân dễ dàng bị bỏ rơi đến mức nào.[22]

Nguy hiểm hơn cả là thái độ dần quen với bất công, coi đau khổ của tha nhân là điều “bình thường mới”. Khi khả năng thấu cảm bị thui chột, con người cũng đánh mất chính căn tính của mình - vốn chỉ được thành toàn trong tương quan với tha nhân.

RIÊNG TẠI VIỆT NAM

1. Khủng hoảng môi sinh

Quê hương Việt Nam, nơi vốn được ban tặng vẻ đẹp của “rừng vàng biển bạc”, nay đang phải rên xiết do những vết thương sinh thái sâu sắc: từ nạn phá rừng tàn khốc đến sự xâm lấn của rác thải công nghiệp. Trật tự hài hòa của thiên nhiên đang bị phá vỡ. Hệ quả là những cơn bão với tần suất dày đặc, tình trạng hạn mặn xâm nhập khốc liệt hay những vụ sạt lở đất đau lòng đã tước đi sinh mạng và tài sản của bao người khốn khó.

1.1  Ô nhiễm không khí

Thực trạng ô nhiễm không khí tại nước ta đã chạm đến mức báo động đỏ. Năm 2024, Việt Nam đứng thứ 23 trong danh sách các quốc gia có chất lượng không khí kém nhất toàn cầu. [23] Tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, hơi thở của hàng triệu người dân đang bị đe dọa bởi nồng độ bụi mịn PM₂.₅  đạt mức 28,7 µg/m³, cao gấp gần 6 lần mức khuyến nghị của WHO. [24]

Khói bụi từ những dòng xe cộ bất tận, khí thải từ các khu công nghiệp tập trung và việc đốt rác thải thiếu kiểm soát không chỉ che lấp bầu trời xanh mà còn là tác nhân thầm lặng đẩy nhanh tiến trình biến đổi khí hậu tại địa phương.[25]

1.2  Ô nhiễm nguồn nước

Dòng máu của đất mẹ – những dòng sông và nguồn nước ngầm – đang chịu sự đầu độc tàn nhẫn. Một thực trạng nghịch lý là dù đất nước đang phát triển, nhưng mới chỉ có khoảng 58% người dân được tiếp cận dịch vụ nước an toàn và chỉ 41% lượng nước thải được xử lý đúng quy chuẩn. [26]

Việc thiếu các hệ thống xử lý nước thải đã dẫn đến một con số bàng hoàng: mỗi ngày có khoảng 12 triệu m3 nước thải đổ trực tiếp ra môi trường, và 87% trong số đó hoàn toàn chưa qua xử lý.[27] Từ những dòng kênh đen kịt trong lòng đô thị đến thảm họa Formosa (2016) ám ảnh miền Trung, chúng ta thấy rõ cái giá đắt đỏ mà thiên nhiên và những người dân chài nghèo khổ phải trả cho một nền kinh tế thiếu đi việc chăm sóc.

2. Khủng hoảng tình liên đới

Trong những năm gần đây, Việt Nam đang phải đối diện với nhiều vấn đề nghiêm trọng trên bình diện đạo đức và xã hội. Trước hết, nạn tham nhũng là mối quan ngại hàng đầu của người dân. Năm 2024, Việt Nam đứng thứ 88/180 quốc gia có nạn tham nhũng.[28] Thực trạng này cho thấy một sự lệch lạc sâu sắc trong ý thức trách nhiệm. Khi những nguồn lực lẽ ra phải dành cho công ích lại bị biến thành tư lợi, chính những người nghèo và những người yếu thế là những nạn nhân đầu tiên phải gánh chịu sự bất công.

Bên cạnh đó, chúng ta chứng kiến một nghịch lý đau lòng: khi khoa học kỹ thuật đạt đỉnh cao thì khoảng cách giàu – nghèo lại ngày càng giãn rộng. Sự bất bình đẳng không chỉ nằm ở vật chất mà còn ở cơ hội tiếp cận tri thức, đẩy một bộ phận lớn dân chúng vào thế bị gạt ra bên lề của sự tiến bộ.

Sự rạn nứt này len lỏi vào tận tế bào của xã hội là gia đình. Việc tỷ lệ ly hôn tăng gần gấp đôi trong vòng mười năm qua, đặc biệt các gia đình trẻ, là dấu chỉ cho thấy sự mong manh của cam kết yêu thương và sự suy yếu của khả năng đối thoại và hy sinh.[29]

Bức tranh càng thêm ảm đạm với thực trạng bạo lực học đường đang gia tăng về cả tần suất lẫn mức độ. Hàng trăm vụ việc được ghi nhận không chỉ là hồi chuông báo động trong cách ứng xử mà còn phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng trong việc giáo dục nhân bản.[30] Điều này cho thấy sự xuống cấp trong quan hệ ứng xử giữa học sinh và sự thiếu hiệu quả giáo dục nhân bản nơi học đường.

Ngoài ra, cùng với sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, tình trạng lừa đảo qua mạng ngày càng lan rộng. Theo Vietnam News (2024), trung bình cứ 220 người dùng mạng xã hội thì có một người trở thành nạn nhân.[31] Sự gia tăng của hình thức tội phạm này không chỉ cho thấy mặt trái của công nghệ mà còn phản ánh sự suy giảm niềm tin và ý thức luân lý trong xã hội hiện đại.

Tất cả những thực trạng trên cho thấy Việt Nam đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng luân lý – xã hội sâu sắc, nơi các giá trị nhân bản, tình liên đới và tinh thần trách nhiệm chung đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Đó không chỉ là vấn đề xã hội và sinh thái nhưng cốt yếu là vấn đề nhân học và thần học

 

Không ai có thể phủ nhận rằng khủng hoảng môi sinh và khủng hoảng tình liên đới đang trực tiếp đe dọa đời sống con người. Chúng không đơn thuần tách biệt nhau nhưng tác động qua lại đến nhau: sự tàn phá thiên nhiên phản ánh cùng một lối sống ích kỷ, tiêu thụ và dửng dưng đã làm suy kiệt cả mối dây liên đới giữa con người với nhau.

Chúng ta không thể nào giải quyết vấn đề về môi sinh mà lại không tìm cách giải quyết vấn đề về tình liên đới. Ngày nay, nhiều nhà xã hội học và sinh thái học, khi đứng trước những thực trạng như vậy, đang cố gắng nhìn nhận vấn đề một cách khách quan từ đó đưa ra những giải pháp để khắc phục. Tuy nhiên, những giải pháp họ đưa ra chỉ mới dừng lại ở mức vi mô và có tính tạm thời mà thôi.

Xã hội và sinh thái chỉ là cái nhìn hiện tượng đối với vấn đề, nhưng hơn hết phải cần đến lăng kính thần học để thấy được cốt lõi của vấn đề, từ đó chỉ ra nguyên nhân sâu xa cũng như đưa ra những giải pháp thích hợp nhất. Điều này mới đây đã được Đức Thánh Cha Leo XIV khẳng định trong Sứ điệp nhân ngày cầu nguyện cho việc chăm sóc thụ tạo 2025 như sau: “Việc bảo vệ thụ tạo không chỉ là một vấn đề đạo đức mà còn là một vấn đề có tính thần học vượt trội, vì đây là điểm giao thoa giữa mầu nhiệm con người và mầu nhiệm Thiên Chúa.”[32] Thế giới này được trao ban cho con người,[33] vì thế ơn gọi của người Kitô hữu, cũng như mọi người, là chăm sóc và làm cho thế giới này mỗi ngày một tốt đẹp hơn theo như ý Thiên Chúa.

Để có thể vượt qua những cơn khủng hoảng nêu trên, theo tôi hai Thông điệp nổi tiếng là Laudato Si’ và Fratelli Tutti của Đức Thánh Cha Phanxicô, hẳn sẽ giúp đưa ra những giải pháp căn bản.

 

CHƯƠNG II
TRÙNG TU NGÔI NHÀ CHUNG
THEO THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

1.   Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng sinh thái: Cội rễ nhân học và văn hóa

Trong Thông điệp Laudato Si’, Đức Thánh Cha Phanxicô không dừng lại ở việc mô tả các hiện tượng của sự biến đổi khí hậu hay ô nhiễm môi trường. Ngài đi sâu vào những căn nguyên ẩn giấu bên trong tâm thức con người bằng việc khẳng định rằng chúng ta không thể giải quyết cuộc khủng hoảng sinh thái nếu không giải quyết cuộc khủng hoảng nhân văn đang diễn ra song song. Sự tàn phá môi trường thiên nhiên gắn liền với căn bệnh đang làm biến chất căn tính của con người.[34] Theo ngài, cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ sự kết hợp giữa một nền công nghệ đầy quyền lực nhưng thiếu đạo đức, và một cái nhìn lệch lạc về vị trí của con người trong vũ trụ.

1.1 Công nghệ và sự thống trị của Mô hình Kỹ trị

Giáo hội luôn có cái nhìn tích cực và quân bình về sự tiến bộ. Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định khoa học và công nghệ là “một sản phẩm kỳ diệu của hoạt động sáng tạo của con người, một quà tặng của Thiên Chúa.”[35] Chúng đã giúp cải thiện đáng kể về chất lượng sống và thể hiện sự tham dự của con người vào quyền năng của Đấng Tạo Hóa. Tuy nhiên, ngài cũng cảnh báo về một sự biến chất đầy nguy hiểm: khi công nghệ không còn là công cụ mà trở thành một hệ tư tưởng thống trị - Mô hình Kỹ trị. Mô hình này không chỉ là sự hiện diện của máy móc, mà là một lăng kính lệch lạc nhìn nhận mọi thực tại như đối tượng để sở hữu và biến đổi vô điều kiện.[36]

Nếu như trước đây, con người tương tác với thiên nhiên trong tâm thế “đón nhận” thì nay đã chuyển sang thế “đối đầu” bằng cách vắt kiệt mọi tài nguyên mà bỏ qua nhịp điệu sinh học của sự sống. Thiên nhiên bị giản lược thành một kho dữ liệu khổng lồ hay một bể chứa nguyên liệu vô tri.[37]

Ngoài ra, mô hình này có xu hướng trở thành một hệ thống toàn trị (totalitarian). Nó áp đặt sự kiểm soát lên mọi lĩnh vực: từ kinh tế đến đời sống riêng tư. Con người dần bị “lập trình” bởi các thuật toán và nhu cầu tiêu thụ, làm suy giảm khả năng quyết định tự do và triệt tiêu không gian cho sự sáng tạo đích thực - vốn đòi hỏi sự chiêm niệm và rung cảm trước cái đẹp.[38]

Vấn đề càng trở nên trầm trọng khi sự gia tăng sức mạnh công nghệ không đi đôi với sự trưởng thành về đạo đức. Đức Thánh Cha đặt câu hỏi nhức nhối: “Quyền lực ấy nằm trong tay ai?”[39] Theo ngài, Chúng ta đang trở thành “những gã khổng lồ về kỹ thuật nhưng lại là những đứa trẻ về đạo đức,” nắm giữ quyền năng hủy diệt nhưng thiếu nền tảng tâm linh để kiểm soát nó.[40]

Cuối cùng, khi liên minh với logic thị trường, Mô hình Kỹ trị biến lợi nhuận thành thước đo tối hậu. Mọi giá trị về môi trường hay nhân phẩm đều bị coi là “ngoại ứng” không đáng kể, sẵn sàng bị hy sinh cho mục tiêu tăng trưởng tài chính đơn thuần.

1.2 Chủ trương “Quy nhân luận hiện đại” và sự lệch lạc căn bản

Nếu Mô hình Kỹ trị cung cấp ‘phương tiện’, thì Chủ trương “Quy nhân luận hiện đại” chính là ‘động lực’ và nền tảng tư tưởng cho sự tàn phá. Đức Thánh Cha khẳng định: Chúng ta “không có sinh thái học nếu không có một nền nhân học trung thực.[41] Khủng hoảng sinh thái, xét cho cùng, là sự phóng chiếu của sự xáo trộn trong mối quan hệ giữa con người với chính bản thân mình và với Đấng Tạo Hóa. Chủ trương “Quy nhân luận hiện đại,” do đề cao con người một cách thái quá và lệch lạc, đã làm cho con người tự coi mình là trung tâm tuyệt đối của vũ trụ, là chủ nhân có quyền sinh sát, thay vì nhận ra mình ‘thuộc về’ mạng lưới sự sống do Thiên Chúa tạo dựng.[42]

1.2.1 Chủ nghĩa khai thác vô giới hạn và sự hiểu lầm Kinh Thánh

Một trong những nguyên nhân khiến Chủ trương “Quy nhân luận hiện đại” lệch lạc bám rễ sâu, đặc biệt trong văn hóa phương Tây, xuất phát từ việc giải thích sai lệch các bản văn Kinh Thánh.

Trong quá khứ, không ít lần câu Kinh thánh trong sách Sáng thế: “Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời...” (St 1,28) bị diễn giải như một giấy phép cho sự thống trị tàn bạo của con người. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nên con người có quyền đứng trên thiên nhiên và sử dụng nó tùy thích.

Tuy nhiên, trong chương 2 của Laudato Si’, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thực hiện một cuộc giải mã quan trọng. Ngài khẳng định dứt khoát: “Chúng ta không phải là Thiên Chúa. Trái đất hiện hữu trước chúng ta và đã được ban cho chúng ta.”[43] Ngài mời gọi các tín hữu ý thức rằng con người được đặt vào vườn Eden để “canh tác và gìn giữ” (St 2,15). Thiên Chúa cho phép con người can thiệp vào tự nhiên bằng Canh tác” (abad) để phát triển nhưng cũng phải “gìn giữ” (shamar), nghĩa là bảo vệ, chăm sóc, duy trì và canh chừng.[44] Khi quên đi vế “gìn giữ”, chủ trương “Quy nhân luận hiện đại” biến tướng thành “chủ nghĩa khai thác vô giới hạn”.

Chủ trương này làm con người không còn nhìn thấy giá trị tự thân của các loài thụ tạo,[45] vì dưới con mắt của kẻ khai thác, tất cả chỉ có giá trị như một công cụ: gỗ để bán, nước để chạy tuabin, đất để xây dựng. Họ hành xử như thể trái đất là vô tận. Đây không chỉ là tội sinh thái mà còn là một sự bất công liên thế hệ. Đáng chú ý, chính những người nghèo, những cộng đồng yếu thế là những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả của việc môi trường bị tàn phá. Đức Thánh Cha xác quyết: tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo là một,[46] và cả hai đều là nạn nhân của cùng một tư duy thống trị sai lầm.

1.2.2 Chủ nghĩa Tương đối thực hành

Nếu Mô hình Kỹ trị là phương tiện, Chủ trương “Quy nhân luận hiện đại” là động lực, thì “Chủ nghĩa Tương đối thực hành” là cơ chế phòng vệ đạo đức, giúp con người biện minh cho những hành vi sai trái của mình. Đây không hẳn là chủ nghĩa tương đối về lý thuyết, mà nguy hiểm hơn, nó là chủ nghĩa tương đối trong lối sống: “Mọi sự đều trở thành vô nghĩa nếu nó không phục vụ cho những lợi ích trực tiếp của bản thân.”[47]

Khi con người lấy cái tôi và lợi ích cá nhân (hoặc lợi ích nhóm) làm thước đo duy nhất thì mọi chuẩn mực đạo đức khách quan đều sụp đổ. Tại sao phải bảo vệ một dòng sông nếu việc xả thải giúp nhà máy của tôi tiết kiệm chi phí? Tại sao phải quan tâm đến khí thải nhà kính nếu việc đó làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhiệm kỳ này?

Chủ nghĩa tương đối thực hành làm cho con người trở nên vô cảm.[48] Nó cho phép các tập đoàn lớn và các thể chế chính trị lẩn tránh trách nhiệm đạo đức bằng những lập luận về tính hiệu quả, ‘quy luật thị trường’ hay ‘nhu cầu bất khả kháng’.[49] Trong bối cảnh đó, các tội ác chống lại thiên nhiên không bị coi là tội ác, mà chỉ là những thiệt hại phụ chấp nhận được.

Nó tạo ra một vòng luẩn quẩn: con người dùng công nghệ để thỏa mãn lòng tham, và khi bị lương tâm cắn rứt, họ dùng chủ nghĩa tương đối để tự trấn an rằng ‘mọi người đều làm thế’ hoặc ‘đây là điều cần thiết’.

1.3 Hệ quả điển hình: Văn hóa Vứt bỏ

Sự cộng hưởng giữa ba yếu tố trên (Kỹ trị, Quy nhân luận hiện đại và tương đối thực hành) đã sản sinh ra một hiện tượng xã hội đặc thù mà Đức Thánh Cha gọi là: Văn hóa vứt bỏ.[50]

Nền văn minh công nghiệp hiện đại được thúc đẩy bởi chủ nghĩa tiêu thụ, vận hành theo quy trình: Khai thác à Sản xuất à Tiêu thụ à Vứt bỏ. Chúng tạo ra những sản phẩm sử dụng một lần rồi thải loại. Điều này làm cho Trái đất biến thành “một đống rác khổng lồ”[51] vì khả năng hấp thụ của hành tinh đã bị quá tải bởi lòng tham con người.

Điều đau đớn hơn mà Đức Thánh Cha chỉ ra là logic ‘vứt bỏ’ này không dừng lại ở vật chất mà đã bắt đầu áp dụng lên chính con người. Theo ngài, “văn hóa loại bỏ ảnh hưởng đến những người bị loại trừ cũng như những sự vật nhanh chóng biến thành rác.”[52] Trong một xã hội chỉ tôn thờ hiệu suất và khoái lạc thì những ai không còn khả năng tạo ra giá trị kinh tế hoặc gây phiền toái cho sự hưởng thụ cá nhân đều có nguy cơ bị loại bỏ. Đó là bi kịch của nạn phá thai (vứt bỏ sự sống chưa sinh), của việc bỏ rơi người già cô đơn (vứt bỏ sự sống xế chiều), và sự thờ ơ trước người nghèo, người khuyết tật (vứt bỏ những người kém may mắn).

Như vậy, nhìn sâu vào nguyên nhân của cuộc khủng hoảng sinh thái, chúng ta thấy đó không phải là vấn đề có thể giải quyết bằng việc thay thế vài cỗ máy hay ban hành vài đạo luật. Nhưng đó là triệu chứng của một căn bệnh tâm linh sâu sắc: sự kiêu ngạo muốn làm Chúa (Chủ trương Quy nhân luận hiện đại), sự lệ thuộc vào công cụ (Mô hình Kỹ trị) và sự chai sạn của lương tâm (Văn hóa vứt bỏ). Để cứu lấy Ngôi nhà chung, nhân loại cần một cuộc hoán cải sinh thái toàn diện, bắt đầu từ việc chữa lành cái nhìn của con người về chính mình và về thế giới.

2. Nền sinh thái học toàn diện

Sau khi đã chỉ ra những vết nứt và phân tích tường tận các nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự xuống cấp của Ngôi nhà chung và không dừng lại ở việc phê phán hay đưa ra những giải pháp kỹ thuật đơn lẻ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cung cấp một khung giải pháp duy nhất, một bản thiết kế nền tảng có khả năng đối phó với cuộc khủng hoảng hiện nay: Nền Sinh thái học Toàn diện (chương IV). Đây là một khái niệm mang tính bao trùm, không chỉ dừng lại ở nỗ lực bảo tồn thiên nhiên mà còn kết hợp chặt chẽ các mối quan hệ xã hội, kinh tế, văn hóa và đạo đức vào trong cùng một toàn thể.

2.1 Sinh thái học toàn diện là gì?

Sinh thái học toàn diện là một mô hình tư duy mới dựa trên chân lý cốt lõi: Mọi sự đều liên kết với nhau.[53] Nhãn quan này bác bỏ cách tiếp cận manh mún, vốn chỉ loay hoay giải quyết các triệu chứng bề mặt mà phớt lờ căn nguyên gốc rễ của sự đổ vỡ.

Sâu xa hơn, sự liên kết này không phải là ngẫu nhiên, mà phản chiếu chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong công trình tạo dựng. Vì “mọi thụ tạo đều mang trong mình một cấu trúc Ba Ngôi cụ thể”[54] - là sự hiệp thông tình yêu giữa Cha, Con và Thánh Thần -  nên bản tính của chúng là hướng về nhau và liên kết với nhau. Do đó, khủng hoảng sinh thái thực chất là sự chối bỏ dấu ấn hiệp thông này để quay về với cái tôi vị kỷ và cô lập.

Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định: “Chúng ta không đứng trước hai cuộc khủng hoảng tách biệt, một đàng là môi trường, đàng khác là xã hội, mà là một cuộc khủng hoảng duy nhất và phức tạp, vừa là xã hội vừa là môi trường.”[55] Thiên nhiên không phải là một cái khung tách biệt bên ngoài bao quanh chúng ta, mà chúng ta là một phần và đan quyện vào nó. Do đó, cái nhìn toàn diện này chính là tiền đề bắt buộc và là nền móng vững chắc cho mọi nỗ lực trùng tu Ngôi nhà chung mà chúng ta sẽ thực hiện.

2.2 Các chiều kích của sinh thái học toàn diện

Để thấu hiểu và vận dụng Sinh thái học Toàn diện, chúng ta cần xem xét các chiều kích đa dạng của nó, nhằm vượt ra khỏi giới hạn của sinh thái học tự nhiên truyền thống.

2.2.1 Sinh thái học môi trường, kinh tế và xã hội

Đây là chiều kích cốt lõi. Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “một cách tiếp cận sinh thái thực sự luôn luôn phải là một cách tiếp cận xã hội.”[56] Sự suy thoái môi trường và xã hội có cùng một gốc rễ, do đó, các chính sách phát triển không được phép chỉ nhắm đến lợi nhuận tức thời mà phải phân tích tác động toàn diện đến con người.[57]

Đặc biệt, Đức Thánh Cha vạch trần sự bất công quốc tế qua khái niệm Món nợ sinh thái. Ngài viết: “Quả thực có một ‘món nợ sinh thái’ [...] liên quan đến việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của một số quốc gia trong một thời gian dài.”[58] Các nước giàu đã khai thác tài nguyên chung quá mức, nhưng hậu quả lại đè nặng lên các nước nghèo. Điều này đòi hỏi các nước giàu phải có trách nhiệm hỗ trợ các nước nghèo như một nghĩa vụ công bằng, thay vì xem đó là sự bố thí.

2.2.2 Sinh thái học văn hóa

Việc trùng tu Ngôi nhà chung không phải là san phẳng mọi thứ theo khuôn mẫu công nghiệp hóa vô hồn, mà là bảo vệ căn tính – bao gồm di sản văn hóa, lịch sử và nghệ thuật - của mỗi dân tộc. Đức Thánh Cha cảnh báo việc “làm mất đi sự phong phú và đa dạng của các nền văn hóa”[59] cũng nghiêm trọng như sự tuyệt chủng của một loài thụ tạo.[60] Đặc biệt, ngài mời gọi chúng ta phải coi các cộng đồng bản địa là “đối tác đối thoại chính,”[61] vì họ nắm giữ những bí quyết sống hài hòa với thiên nhiên mà thế giới hiện đại đã lãng quên.

2.2.3 Sinh thái học đời sống thường nhật

Sinh thái học toàn diện còn hiện diện ngay trong căn nhà, khu phố và đô thị, bởi chất lượng cuộc sống con người gắn liền với môi trường họ cư ngụ.[62] Quy hoạch đô thị và kiến trúc phải phục vụ cho sự gặp gỡ và kết nối nhân vị. Ngài lưu ý: “Nếu mọi người sống trong một môi trường đô thị... nơi không có sự ngăn cách giữa riêng tư và công cộng, họ sẽ cảm thấy một mối liên hệ sâu sắc với nơi chốn của mình.” [63] Ngược lại, sự hỗn loạn, thiếu không gian xanh và sự cô lập là mầm mống cho những hành vi chống đối xã hội. Do đó, việc cải thiện nhà ở cho người nghèo không chỉ là vấn đề xây dựng, mà là vấn đề nhân phẩm, để họ có thể cảm nhận được mái ấm thực sự trong Ngôi nhà chung này.[64]

2.2.4. Nguyên tắc công ích và công bằng giữa các thế hệ

Nền tảng của việc trùng tu phải dựa trên nguyên tắc công ích, được hiểu là “tổng hợp những điều kiện của đời sống xã hội cho phép các tập thể hay các thành viên đạt tới sự hoàn hảo riêng của họ,”[65] trong đó ưu tiên hàng đầu là sự “lựa chọn ưu tiên cho người nghèo,” [66] những người bị gạt ra bên lề xã hội.

Ý niệm công ích còn mở rộng đến các thế hệ tương lai như một thước đo đạo đức. Trái đất là di sản chúng ta nhận được để trao lại, không phải sở hữu riêng để tận diệt. Kim chỉ nam định hướng cho chúng ta phải là: “Loại thế giới nào chúng ta muốn chuyển lại cho những người đến sau chúng ta, cho các trẻ em đang lớn lên?”[67]

3. Hướng trùng tu mới cho Ngôi nhà chung: Từ hoán cải đến đối thoại

Để thực hiện việc trùng tu trên nền tảng Sinh thái học toàn diện, Đức Thánh Cha Phanxicô đề xuất hai trụ cột chính giống như hai cánh tay cùng làm việc để vực dậy ngôi nhà đang suy sụp: một hướng vào nội tâm để thực hiện Hoán cải Sinh thái, và một vươn ra cộng đồng để thúc đẩy Đối thoại Sinh thái.

3.1 Hoán cải sinh thái: Hành trình biến đổi toàn diện

Đức Thánh Cha khẳng định: mọi giải pháp kỹ thuật chỉ là chắp vá nếu không có sự thay đổi trong tâm thức và văn hóa. Ngài mời gọi một cuộc Hoán cải sinh thái toàn diện, chuyển từ thái độ của kẻ thống trị sang thái độ của người quản gia biết kính trọng và chăm sóc. Sự hoán cải này diễn ra trên ba chiều kích liên kết chặt chẽ:

Thứ nhất là chiều kích Tâm linh, nơi Linh đạo sinh thái đóng vai trò nền tảng. Cuộc hoán cải này bắt đầu bằng một “cái nhìn” chiêm niệm: nhận ra vũ trụ không phải “kho tài nguyên” vô tri mà là tặng phẩm yêu thương và nơi gặp gỡ Đấng Tạo Hóa. [68] Khi đó, bảo vệ công trình của Thiên Chúa trở thành “phần cốt yếu của một đời sống nhân đức.” [69] Linh đạo này đạt tới đỉnh cao khi chiêm ngắm Đức Kitô Phục Sinh – đích điểm của vạn vật. [70] Ngài không chỉ là Đức Giêsu lịch sử từng trìu mến nhìn ngắm thiên nhiên, [71] mà còn là Đấng Phục Sinh hiện đang bao trùm và thấm đẫm vạn vật bằng vinh quang của Ngài. [72] Do đó, hoán cải sinh thái chính là hành vi đức tin giúp nhận ra khuôn mặt Đức Kitô hiện diện sáng ngời trong lòng thế giới.

Đỉnh cao của cuộc hoán cải và linh đạo này được tìm thấy nơi Bí tích Thánh Thể, nơi công trình tạo dựng tìm được sự tôn vinh cao cả nhất.[73] Tại bàn tiệc Thánh Thể, vật chất được thánh hóa để trở thành phương tiện hiệp thông với Thiên Chúa. Ngài đã chạm đến cõi thâm sâu của con người qua những mẫu vật chất hữu hình (bánh và rượu - hoa trái của đất và lao công con người). Đây chính là tâm điểm sống động của vũ trụ, nơi trời và đất giao duyên, là động lực thôi thúc chúng ta bảo vệ Ngôi nhà chung.

Thứ hai là chiều kích Lối sống, nơi Giáo dục sinh thái chuyển hóa nhận thức thành hành động. Từ nền tảng tâm linh, sự hoán cải đòi hỏi một sự thay đổi cụ thể trong thói quen hằng ngày. Nhiệm vụ của giáo dục sinh thái là đào tạo con người biết khước từ sự cám dỗ của chủ nghĩa tiêu thụ để sống tiết độ và giản dị theo phương châm “ít là nhiều” (less is more).[74] Những việc như tiết kiệm nước, phân loại rác hay tắt một bóng đèn là những hành vi có sức mạnh lan tỏa và có tính đạo đức cao quý, vì chúng thể hiện một văn hóa chăm sóc đích thực.[75]

Thứ ba là chiều kích Cộng đồng, nơi sự hoán cải mang tính xã hội. Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định rằng sự hoán cải cá nhân là chưa đủ.[76] Tình liên đới được khơi dậy thôi thúc các cộng đoàn cùng nhau giải quyết các vấn đề mà một cá nhân đơn lẻ không thể thực hiện. Bởi lẽ “Những vấn đề xã hội phải được giải quyết bằng những mạng lưới cộng đồng, chứ không chỉ đơn thuần là tổng số những việc làm tốt của các cá nhân.”[77] Như thế, hoán cải sinh thái kết nối tất cả chúng ta trong một trách nhiệm chung đối với tương lai nhân loại.

3.2 Đối thoại sinh thái: Kiến tạo những cấu trúc mới

Nếu Hoán cải sinh thái là ngọn lửa nội tâm tái liên kết với Tạo Hóa, thì Đối thoại sinh thái là phương thế để chuyển hóa ngọn lửa ấy thành hành động trong các cấu trúc xã hội. Đức Thánh Cha nhận định thẳng thắn rằng những giải pháp cá nhân đơn lẻ không thể thay đổi được thực trạng thế giới nếu thiếu sự can thiệp vào các quyết định chính trị và kinh tế vĩ mô. Ngài đề xuất một lộ trình đối thoại đa chiều, trung thực và minh bạch.[78]

 

 

3.2.1 Đối thoại trong các chính sách quốc tế

Các vấn đề môi trường như sự nóng lên toàn cầu hay ô nhiễm đại dương vốn không có biên giới. Do đó, giải pháp cho chúng cũng không thể mang tính cục bộ. Đức Thánh Cha phê bình gay gắt sự yếu kém của các phản ứng quốc tế hiện nay, nơi các Hội nghị Thượng đỉnh thường kết thúc bằng những tuyên bố hoa mỹ nhưng thiếu tính ràng buộc thực tế.[79]

Ngài kêu gọi thiết lập một Cơ chế quản trị toàn cầu thực sự hiệu quả. Đối thoại ở cấp độ này không được phép dừng lại ở những thỏa hiệp ngoại giao hẹp hòi hay lợi ích của các tập đoàn đa quốc gia. Thay vào đó, nó đòi hỏi các hiệp ước có tính chế tài pháp lý mạnh mẽ, đặt công ích toàn cầu lên trên chủ quyền quốc gia ích kỷ. “Chúng ta cần một thỏa thuận về các hệ thống quản trị cho toàn bộ các phạm vi được gọi là ‘tài sản chung toàn cầu’,”[80] nhằm đảm bảo các nước nghèo không phải gánh chịu hậu quả từ sự phát triển vô độ của các nước giàu.

3.2.2 Đối thoại trong chính trị và kinh tế quốc gia

Ở cấp độ quốc gia, Đức Thánh Cha chỉ ra một rào cản lớn cho việc bảo vệ môi trường: Tư duy nhiệm kỳ ngắn hạn. Các chính trị gia thường ngại đụng đến vấn đề môi trường vì chúng đòi hỏi sự hy sinh lợi ích trước mắt mà kết quả chỉ thấy được sau nhiều năm.

Đối thoại sinh thái đòi hỏi một mối tương quan mới: Chính trị không được phục tùng kinh tế, và kinh tế không được trở thành con tin của Mô hình Kỹ trị.[81] Cần định nghĩa lại khái niệm ‘tiến bộ’: Phát triển không đồng nghĩa với tăng trưởng GDP bằng mọi giá. Các dự án kinh tế phải tuân thủ các quy trình đánh giá tác động môi trường minh bạch, độc lập và có sự tham gia của người dân địa phương ngay từ đầu, thay vì chỉ là những thủ tục hợp thức hóa.[82]

3.2.3 Đối thoại giữa Tôn giáo và Khoa học

Một điểm nhấn đặc sắc là lời mời gọi đối thoại giữa đức tin và lý trí. Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định khoa học và tôn giáo không hề đối nghịch. Trái lại, chúng cần nhau để giải quyết cuộc khủng hoảng sinh thái.

Khoa học cung cấp dữ liệu, cảnh báo nguy cơ và đề xuất giải pháp kỹ thuật, nhưng bản chất trung tính của nó không thể cung cấp động lực đạo đức. Tại đây, tôn giáo đóng vai trò khơi dậy những nguồn lực tinh thần, nhắc nhở về phẩm giá con người và trách nhiệm luân lý. “Đa số cư dân trên hành tinh này tự nhận là những tín hữu. Điều này phải thúc đẩy các tôn giáo đi vào việc đối thoại với nhau...cũng như đối thoại với khoa học để bảo vệ thiên nhiên.”[83] Sự hợp tác này tạo ra một nền tảng đạo đức vững chắc và định hướng cho sự phát triển nhân văn.

Tóm lại, đối thoại sinh thái không phải là những cuộc đàm phán chia chác lợi ích, mà là hành trình cùng nhau tìm kiếm sự thật. Nó đòi hỏi sự kiên nhẫn, lòng quảng đại và trên hết là sự dũng cảm dám phá vỡ những cấu trúc xơ cứng, nhằm xây dựng một thế giới công bằng và bền vững.

Sinh thái học Toàn diện không chỉ là một giải pháp kỹ thuật, mà là một mệnh lệnh luân lý về sự ‘liên kết’. Tuy nhiên, một Ngôi nhà chung dù được chữa lành về mặt sinh học vẫn sẽ hoang lạnh và vô nghĩa nếu những chủ thể cư ngụ trong đó vẫn bị chia cắt bởi hố sâu của sự dửng dưng. Sự vẹn toàn của hệ sinh thái không thể tách rời sự vẹn toàn của mối tương quan nhân vị. Chính vì thế, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Thông điệp Fratelli Tutti. Nếu Laudato Si’ là lời mời gọi lắng nghe “tiếng kêu của Trái Đất” thì theo thần học gia François Euvé, Fratelli Tutti là mệnh lệnh cấp thiết phải thấu cảm “tiếng kêu gào của con người và xã hội.”[84] Đây là bước chuyển tất yếu từ không gian sống sang chủ thể sống. Cuộc khủng hoảng môi trường, xét cho cùng, chỉ là sự phóng chiếu ra bên ngoài của một cuộc khủng hoảng tình huynh đệ sâu sắc bên trong.

Do đó, Fratelli Tutti, mà chúng ta sẽ đào sâu trong chương kế tiếp, không đơn thuần là một bản văn xã hội học, mà là mảnh ghép hoàn thiện cho ơn gọi làm người. Chúng ta được mời gọi vượt qua ‘cái tôi’ vị kỷ để kiến tạo một “Cái Chúng ta” mang tính ngôn sứ. Chỉ khi tái thiết lập được ‘Nền văn hóa gặp gỡ’, biến người xa lạ thành người thân cận, nhân loại mới thực sự đủ tư cách và sức mạnh để gìn giữ Ngôi nhà chung mà Thiên Chúa đã ủy thác.

 

CHƯƠNG III
TÁI XÂY DỰNG “CÁI CHÚNG TA”
THEO THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI

Nếu như Laudato Si’ (2015) là tiếng vọng khẩn thiết từ Ngôi nhà chung đang rên xiết vì bị tàn phá, thì Fratelli Tutti (2020) chính là tiếng kêu thương tâm của những chủ thể đang sống trong đó. Hai thông điệp này không đứng tách biệt nhưng đan dệt với nhau trong toàn bộ giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô. Một hệ sinh thái bền vững đòi hỏi một nền nhân học vững chắc, nơi “Cái Chúng ta” – chủ thể của lịch sử – được phục hồi trong phẩm giá và tình liên đới.

Bức tranh thế giới hiện tại cho thấy “Cái Chúng ta” đang bị xé nhỏ thành mảnh vụn của những “cái tôi” vị kỷ. Nhân loại, được Thiên Chúa tạo dựng để hiệp thông, đang đối diện với nguy cơ trở thành một tập hợp của những cá thể cô độc, dù được kết nối về mặt kỹ thuật số nhưng lại đứt gãy về mặt tâm linh. Để cứu lấy tương lai, việc tái khám phá và xây dựng lại tình huynh đệ đại đồng không còn là một lựa chọn đạo đức, mà là một mệnh lệnh sinh tồn, một đòi hỏi cấp bách của Tin Mừng.

  1. Nguyên nhân của sự tan vỡ “Cái Chúng ta”: Bóng mây đen của thời đại

Trong chương đầu tiên của thông điệp Fratelli Tutti, Đức Thánh Cha Phanxicô không ngần ngại vạch trần những ảo tưởng của sự tiến bộ để chỉ ra những đám mây đen đang che khuất chân trời hy vọng. Sự tan vỡ của tình liên đới không phải là một tai nạn ngẫu nhiên nhưng là hệ quả của những trào lưu tư tưởng và lối sống đang làm xói mòn nền tảng nhân bản.

1.1 Những giấc mơ vỡ vụn trong thời đại toàn cầu hóa

Sau những thảm họa của hai cuộc thế chiến và sự sụp đổ của các bức tường ý thức hệ trong thế kỷ XX, nhân loại đã từng nuôi dưỡng một giấc mơ đẹp về một thế giới hội nhập, nơi các quốc gia có thể xích lại gần nhau. Nhưng giấc mơ ấy đang dần vỡ vụn.

Trước hết là ảo tưởng về sự gần gũi. Toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ đã xóa nhòa khoảng cách địa lý nhưng đó chỉ là ảo tưởng về sự gần gũi. Sự kết nối không đồng nghĩa với sự hiệp thông nhân vị. Đức Thánh Cha nhận định sâu sắc rằng: toàn cầu hóa giúp chúng ta trở thành “những người hàng xóm” nhưng không làm cho chúng ta trở thành “anh em.”[85] Thay vì trở thành nhịp cầu, các phương tiện truyền thông đôi khi lại biến con người thành những “đơn tử” cô độc nấp sau màn hình, tạo nên một dạng “tự kỷ tập thể” – nơi người ta chỉ lắng nghe những gì mình muốn và loại trừ mọi sự khác biệt.

Tiếp theo là sự xói mòn ý nghĩa của ngôn ngữ. Đây là một trong những nguyên nhân sâu xa và nguy hiểm nhất khiến cộng đồng nhân loại tan vỡ.[86] Những từ ngữ vốn mang tính thiêng liêng và nền tảng của khế ước xã hội như “dân chủ”, “tự do”, “công lý”, “thống nhất” đang bị bóp méo, rỗng tuếch hóa để phục vụ cho mưu đồ thống trị. Đặc biệt, “Tự do" bị giản lược thành quyền tiêu thụ và hưởng thụ cá nhân, tách rời khỏi trách nhiệm với cộng đồng.[87] Một thứ tự do không hướng đến người khác là thứ tự do ích kỷ và hủy diệt. Khi ngôn ngữ chung bị thao túng, khả năng đối thoại chân thực bị triệt tiêu, nhường chỗ cho những diễn ngôn mị dân gây chia rẽ.

Sau cùng, thế giới hiện đại giống như một con tàu khổng lồ với động cơ cực mạnh nhưng lại mất phương hướng vì thiếu một hải trình chung. Sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân cực đoan (radical individualism) và ích kỷ là một loại virus tinh thần, khiến chúng ta tin rằng sự an toàn của mình nằm ở việc tách biệt và loại trừ người khác. Khi không còn một “kế hoạch chung cho nhân loại,”[88] lịch sử không còn là hành trình chung mà trở thành đấu trường của các lợi ích cục bộ, làm bùng phát các chủ nghĩa dân tộc khép kín và thái độ bài ngoại cực đoan.

1.2 Văn hóa vứt bỏ và sự loại trừ phẩm giá

Sự tan vỡ của “Cái Chúng ta” bị đẩy tới mức cực đoan bởi sự lan rộng của “văn hóa vứt bỏ”, một khái niệm mà Đức Phanxicô đã nhiều lần cảnh báo, đặc biệt trong Thông điệp Laudato Si’ của ngài.[89]

Trong một nền kinh tế tôn thờ lợi nhuận và quy luật thị trường mù quáng, con người bị giản lược thành giá trị sử dụng. Các thai nhi, người bệnh, người già và người nghèo bị coi là gánh nặng và thậm chí là “rác thải” sẵn sàng bị hy sinh.[90] Lối tư duy này phủ nhận chân lý rằng mỗi người là một ngôi vị (persona), mang trong mình hình ảnh Thiên Chúa (Imago Dei), và có phẩm giá bất khả xâm phạm. Khi con người bị đối xử như món hàng - hết giá trị thì loại bỏ - thì nền tảng của tình huynh đệ đã bị phá hủy tận gốc rễ.

Trước nỗi sợ về “người lạ” và sự bất an của thời đại, xu hướng tự vệ phổ biến là xây những bức tường. Đó không chỉ là những bức tường bê tông ngăn cản người di cư tại biên giới, mà nguy hiểm hơn là những bức tường vô hình trong tâm trí ngăn cản sự cảm thông.[91] Những bức tường này tạo ra một cảm giác an toàn giả tạo. Thực chất, chúng biến những người xây nên chúng “thành nô lệ bên trong những bức tường do chính mình xây nên,”[92] đồng thời làm triệt tiêu những chân trời gặp gỡ và dòng chảy của sự sống.

Cuối cùng, “Cái Chúng ta” tan vỡ còn vì nhân loại đang đánh mất ký ức lịch sử. Một xã hội chối bỏ quá khứ giống như một cái cây không rễ, dễ dàng bị cuốn trôi bởi bất kỳ trào lưu tiêu thụ nào. Đức Thánh Cha vạch trần xu hướng “giải cấu trúc” nguy hiểm, muốn xóa bỏ quá khứ, coi thường di sản để tạo ra những con người “lơ lửng”, dễ bị điều khiển.[93] Khi những bài học đau thương của chiến tranh và hận thù bị lãng quên, lương tâm nhân loại sẽ bị chai sạn và nguy cơ lặp lại những sai lầm cũ trở nên hiện hữu hơn bao giờ hết. [94]

  1. Nền tảng nhân học và thần học: Tình yêu xã hội và tình huynh đệ đại đồng

Để hàn gắn sự đổ vỡ này, Fratelli Tutti không đưa ra những giải pháp kỹ thuật hay một cương lĩnh chính trị khô khan. Thay vào đó, Đức Thánh Cha mời gọi nhân loại thực hiện một cuộc hành hương tìm về với nền tảng nhân học và thần học cho sự tồn tại của con người.

2.1 Mầu nhiệm người lạ bên vệ đường

Trái tim của Fratelli Tutti nằm ở chương hai, nơi Đức Thánh Cha thực hiện một cuộc chú giải hiện sinh về dụ ngôn Người Samari nhân hậu (x. Lc 10, 25-37). Đây không đơn thuần là một bài học luân lý cá nhân, mà là chìa khóa để hiểu toàn bộ Học thuyết xã hội của Giáo hội trong bối cảnh mới.

Trong dụ ngôn, thầy tư tế và thầy Lê-vi đại diện cho những người có địa vị tôn giáo và xã hội, nhưng lại mắc căn bệnh trầm kha: sự vô cảm. Hành động “tránh sang bên kia” của họ là biểu tượng của sự dửng dưng toàn cầu hóa. Ngày nay, chúng ta cũng thường lướt qua nỗi đau của nhân loại qua lăng kính an toàn của màn hình tivi hay điện thoại. Đức Thánh Cha nhận định đau xót rằng chúng ta đã trở nên “mù chữ” về lòng trắc ẩn: quen nhìn đi chỗ khác và sống trong bong bóng của sự tiện nghi cá nhân. Với Đức Thánh Cha Phanxicô, sự dửng dưng này là một hình thức đồng lõa với cái ác. [95]

Chúa Giêsu đã đảo ngược câu hỏi mang tính giới hạn của người thông luật (Ai là anh em của tôi?) thành một lời mời gọi: “Ai đã tỏ ra là anh em của người bị nạn?” Tình huynh đệ không phải là một danh từ tĩnh tại dựa trên huyết thống, địa lý hay tôn giáo, mà là một động từ, một hành động. Người Samari – vốn bị coi là kẻ ngoại bang và ô uế – đã trở thành biểu tượng của tình huynh đệ đích thực khi biết “chạnh lòng thương” (splanchnizomai - quặn đau ruột gan). “Cái Chúng ta” đích thực được tái sinh ngay tại khoảnh khắc một người dám phá vỡ lộ trình riêng tư của mình để cúi xuống chạm vào vết thương của tha nhân. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: trước nỗi đau, mọi phân loại xã hội đều sụp đổ; chỉ còn lại hai loại người: những người cúi xuống chăm sóc và những người ngoảnh mặt làm ngơ.[96]

Chiều kích Kitô học: Đức Kitô trong diện mạo người nghèo

Dưới ánh sáng thần học, dụ ngôn Người Samari nhân hậu mang một chiều kích Kitô học sâu xa. Người bị đánh nhừ tử bên vệ đường là hình ảnh của Đức Kitô chịu đóng đinh, Đấng đã đồng hóa mình với những kẻ bé mọn nhất. Đức Thánh Cha nhắc nhở: niềm tin vào Chúa Giêsu buộc chúng ta phải nhận ra Người nơi những kẻ bị bỏ rơi, bởi chính Người đã phán: “Ta là khách lạ và các ngươi đã tiếp rước” (x. Mt 25).[97] Từ đó, việc xây dựng tình huynh đệ trở thành một hành vi thờ phượng đích thực, vì mọi nghi lễ sẽ trở nên rỗng tuếch khi tách rời khỏi việc chăm sóc người anh em.[98]

Đồng thời, người Samari cũng chính là hình ảnh của Đức Kitô, Đấng đã cúi xuống, dùng “dầu và rượu” của các bí tích để chữa lành nhân loại sa ngã bên vệ đường lịch sử. “Hãy đi và làm như vậy” là lời mời gọi mỗi Kitô hữu trở thành một ‘Kitô khác’ (Alter Christus), dấn thân phục hồi phẩm giá con người[99] và tiếp nối việc chữa lành thế giới bằng lòng thương xót.[100]

Trong khi “văn hóa vứt bỏ” dựng lên những hàng rào để loại trừ, thì mầu nhiệm Nhập Thể mang đến một viễn tượng đối nghịch hoàn toàn. Đức Kitô chính là “sự bình an của chúng ta, Đấng đã làm cho đôi bên nên một và phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét” (Ep 2,14). Bằng chính thân thể mình, Người đã xóa nhòa mọi ranh giới giữa thánh thiêng và phàm trần, giữa kẻ thuộc về và kẻ ngoại bang.

Hành động “phá tường” này của Đức Kitô định nghĩa lại “Cái Chúng ta” không dựa trên những giới hạn loại trừ, mà trên một vòng tay mở rộng vô biên. Như một hệ luận: chỉ khi người tín hữu thực sự cảm nhận mình được kết hợp với Đức Kitô trong mầu nhiệm “chúng ta”, họ mới có thể thực hiện tư cách là một ngôi vị đối tác với Thiên Chúa Cha và với đồng loại. [101] Do đó, dấn thân xây dựng tình huynh đệ không phải là một nỗ lực xã hội học đơn thuần, mà là sự tham dự trực tiếp vào sứ mạng cứu độ của Đấng quy tụ muôn dân nên một.

2.2 Con người - Hữu thể của sự mở ra

Dựa trên nền tảng thần học tạo dựng, Thông điệp Fratelli Tutti đã đặt nền móng trên một cái nhìn nhân học vững chắc: bản chất của con người là tương quan.

Đức Thánh Cha khẳng định một chân lý hữu thể học: Con người chỉ đạt đến mức độ sung mãn khi trở thành “món quà chân thành trao cho người khác”.[102] Đây là quy luật của sự ekstasis, sự ra khỏi chính mình để hướng về tha nhân. Bản tính của Thiên Chúa là ekstasis: Ngôi Con đã tự hủy để đến với con người. Vì được tạo dựng cho tình yêu, sự sống của chúng ta vốn vận hành theo cơ chế trao ban; trái lại, sự cô lập là trạng thái phản tự nhiên khiến chúng ta đang chết dần về mặt nhân tính. Như Ngài nói: “Không ai có thể kinh nghiệm vẻ đẹp thực sự của đời sống nếu không liên hệ với người khác, nếu không có những khuôn mặt thực sự để yêu thương.”[103]

Trong xã hội hiện đại, ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do và kinh tế thị trường thường giản lược mối liên kết giữa con người thành quan hệ giữa nhưng “đối tác” hay “người hùn hạp”. Mối quan hệ này mang tính công vụ và có điều kiện: khi lợi ích không còn, sự liên kết cũng tan vỡ.[104] Đức Thánh Cha cảnh báo rằng chủ nghĩa cá nhân cực đoan khiến chúng ta chỉ nhìn người khác như những cộng sự để bảo vệ lợi ích riêng, thay vì nhìn nhận họ như anh chị em.[105]

Ngược lại, nhân học Kitô giáo mời gọi một cuộc hoán chuyển từ quan hệ đối tác sang tương quan “anh chị em” dựa trên “tính nhưng không.”[106] Tình yêu đích thực là chấp nhận người khác ngay cả khi họ là gánh nặng hay những người “kém hiệu quả”  đang đứng trước nguy cơ bị loại bỏ.[107] Chỉ có tình huynh đệ vô điều kiện này mới đủ sức làm nền móng cho nền hòa bình bền vững, điều mà tự do và bình đẳng đơn thuần không thể gầy dựng được.[108]

Tình yêu huynh đệ phải mở rộng từ phạm vi vi mô (gia đình, bạn bè) đến vĩ mô (xã hội, quốc gia, thế giới). Đức Thánh Cha đưa ra khái niệm “bác ái chính trị” (political charity), tức là nỗ lực thay đổi những cấu trúc xã hội gây ra sự loại trừ và bất công. Yêu người không chỉ là cho họ con cá, mà là đấu tranh cho công bằng xã hội để họ có quyền câu cá. Điều này đòi hỏi chúng ta phải kiến tạo những điều kiện xã hội (công ích) cho phép mọi người đạt tới sự phát triển toàn diện.[109]

3. Cách thức xây dựng “Cái Chúng ta”: Từ chính trị tốt đến văn hóa gặp gỡ

Sau khi đã thiết lập được những nền tảng vững chắc, Đức Thánh Cha đề xuất một lộ trình hành động mang tính ngôn sứ và cấp bách, nhằm phục hồi “Cái Chúng ta” đang bị xâu xé bởi chủ nghĩa cá nhân và các xung đột lợi ích. Ngài phác họa chân dung của một nền văn minh tình thương, nơi mà sự hiệp nhất làm cho sự khác biệt trở nên phong phú hơn, được triển khai trên ba trụ cột: một nền chính trị phục vụ thiện ích chung, văn hóa đối thoại xã hội, và tiến trình hòa giải dựa trên sự thật và công lý.

3.1 Một nền chính trị tốt

Đức Thánh Cha Phanxicô xác định bước đi tiên quyết và mang tính quyết định là phục hồi phẩm giá của chính trị. Trong bối cảnh hiện đại, “chính trị” thường gợi lên sự ngờ vực, thậm chí là khinh miệt khi bị đánh đồng với tham nhũng, tranh giành quyền lực, và các thủ đoạn mị dân. Tuy nhiên, ngài đưa ra một xác tín thách thức mọi định kiến: Không thể có tình huynh đệ đại đồng và hòa bình xã hội bền vững nếu thiếu vắng một nền chính trị tốt.[110] Ngài kêu gọi tái khám phá chính trị như một ơn gọi cao quý, một hình thức cao đẹp nhất của bác ái vì nó nhắm đến việc phục vụ công ích và bảo vệ nhân phẩm.

3.1.1 Phục hồi ý nghĩa của chính trị

Nền chính trị tốt phải đặt phẩm giá con người và thiện ích chung lên trên mọi lợi ích tài chính hay phe nhóm. Đức Thánh Cha cảnh báo về sự đảo lộn các giá trị: khi chính trị làm nô lệ cho kinh tế, và kinh tế thành nô lệ cho Mô hình Kỹ trị vô cảm.

Ngài khẳng định đanh thép rằng thị trường tự thân không thể giải quyết mọi vấn đề.[111] Thực tế lịch sử - đặc biệt là qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và thảm kịch của đại dịch Covid-19 - đã chứng minh sự sai lầm của các lý thuyết ‘nhỏ giọt’ (trickle-down), bởi lẽ sự giàu có không tự động chảy từ người giàu xuống người nghèo. Do đó, nền chính trị tốt phải là sự can thiệp tích cực và khôn ngoan để kiến tạo công bằng xã hội, đảm bảo mọi người dân, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất, đều có quyền tiếp cận các nhu cầu cơ bản: đất đai, nhà ở và việc làm…

3.1.2 Con đường mới: Không Dân túy, không chủ nghĩa Tự do cá nhân

Trong nỗ lực trên, Đức Thánh Cha đã vạch trần hai khuynh hướng đang chi phối và gây phân cực hiện nay: Chủ nghĩa Dân túy và Chủ nghĩa Tự do cá nhân.

Chủ nghĩa Dân túy là sự biến tướng nguy hiểm, nơi các nhà lãnh đạo lợi dụng nỗi sợ hãi, sự bất an và những rạn nứt trong bản sắc văn hóa của người dân để củng cố quyền lực của mình. Bằng cách khoét sâu vào sự thù hận, họ phân xã hội thành hai phe đối nghịch: “chúng ta” (nhân dân thuần túy, bản địa) và “họ” (kẻ thù, người di cư, giới tinh hoa thối nát). Đức Thánh Cha gọi đây là một dạng thao túng: biến “nhân dân” thành công cụ loại trừ thay vì bao dung.[112]

Chủ nghĩa Tự do cá nhân lại rơi vào thái cực đối lập, xem xã hội chỉ là sự cộng gộp ngẫu nhiên của các lợi ích riêng lẻ, dẫn đến không có chỗ cho một dự án chung của dân tộc. Người nghèo và kẻ yếu thế bị bỏ mặc cho số phận dưới danh nghĩa cạnh tranh công bằng, trong khi thực tế xuất phát điểm của họ vốn đã bất công.

Từ đó, Đức Thánh Cha đề xuất con đường của Tính nhân dân hay Tình yêu xã hội. Trên con đường này, các nhà lãnh đạo không mị dân nhưng thực sự đồng cảm và thấu hiểu đời sống, văn hóa cũng như khát vọng của người dân để kiến tạo một cộng đồng đích thực - một cộng đồng mở. Hình ảnh ngài dùng là “khối đa diện”. Không đồng nhất tẻ nhạt như hình cầu, “khối đa diện” là nơi mỗi mảnh ghép văn hóa giữ được nét độc đáo riêng nhưng vẫn liên kết chặt chẽ trong một khối thống nhất. Xây dựng “Cái Chúng ta” chính là xây dựng khối đa diện này, nơi sự khác biệt được tôn trọng và hòa quyện trong một dự án chung vì ích lợi của toàn thể.[113]

3.1.3 Tình yêu hữu hiệu: Tình thương và Định chế

Đức Thánh Cha Phanxicô đưa ra khái niệm Bác ái chính trị để đem tình yêu - vốn được xem là phạm trù cá nhân, tình cảm - vào trong sự khô khan của chính trị. Tình yêu đích thực không chỉ dừng lại ở cảm xúc nhất thời mà phải đi sâu vào việc cải biến các định chế pháp luật, kinh tế và xã hội để tấn công vào nguyên nhân gốc rễ của sự khổ đau.

Một ví dụ được ngài sử dụng để cho thấy bác ái chính trị có tầm vóc và tác động rộng lớn hơn bác ái cá nhân: “Nếu một người nào đó giúp đỡ một cụ già lội qua một con sông, đó là một hành động bác ái tốt đẹp. Đàng khác, các chính khách xây dựng những cây cầu, thì đó cũng là một hành động bác ái – bác ái chính trị.”[114] Nhiệm vụ chính trị là xây dựng những ‘cây cầu’ thể chế: một hệ thống y tế công bằng, một nền giáo dục khai phóng, và chính sách việc làm bền vững. Điều này đòi hỏi nơi người làm chính trị sự hy sinh và đôi khi là chấp nhận cả sự thiệt thòi về danh tiếng hay quyền lợi. Động lực cho việc phục hồi này chính là quy luật Ekstasis - ra khỏi chính mình để hiện hữu cho người khác. Vì chỉ bằng gặp gỡ và đối thoại mới biến những lý thuyết thành những nhịp cầu cụ thể trong đời sống.

3.2 Đối thoại và Tình bạn xã hội: Kiến tạo văn hóa gặp gỡ

Một xã hội huynh đệ không phải là một xã hội đồng nhất tẻ nhạt trong hệ tư tưởng độc tôn, nhưng là một xã hội mà trong đó sức sống được tạo nên từ đối thoại và gặp gỡ.

3.2.1 Đối thoại trong chân lý

Trong thời đại kỹ thuật số, nhân loại đang rơi vào nghịch lý: kết nối nhiều nhưng đối thoại rất ít. Đức Thánh Cha khẳng định rằng: đối thoại đích thực là một hành trình tìm kiếm chân lý với lòng can đảm và sự khiêm tốn, chứ không phải với sự thỏa hiệp hèn nhát nhằm che giấu sự thật. Ngài cảnh báo về tình trạng “độc thoại song song” (parallel monologues), nơi mà mỗi bên chỉ lo hét lên quan điểm của mình mà không hề lắng nghe người khác.[115] Chúng ta không thể xây dựng tình huynh đệ trên nền tảng của sự dối trá, bóp méo lịch sử hay thao túng thông tin.

Tôn trọng phẩm giá người đối thoại và sự thật là hai mặt của một đồng xu. Xã hội lành mạnh là xã hội biết trân trọng sự thật về phẩm giá con người cùng những nguyên lý đạo đức căn bản; những giá trị này mang tính bền vững, không thể thay đổi dựa theo sự đồng thuận của đa số. Ngài mời gọi chúng ta phải dũng cảm “lột mặt nạ” những cơ chế dùng các lợi ích quyền lực kinh tế hay chính trị để thao túng sự thật, nhằm trả lại sự trong sáng và chân thành cho đối thoại xã hội.[116]

3.2.2 Nghệ thuật gặp gỡ và kiến tạo hòa bình

Vượt lên trên khái niệm đối thoại thông thường, Đức Thánh Cha đề cao Văn hóa gặp gỡ như một phong cách sống chủ đạo: chủ động phá đổ các bức tường ngăn cách và xây những nhịp cầu nối kết. Lối sống này đòi hỏi chúng ta bước ra khỏi vùng an toàn cá nhân để chạm vào những khác biệt, đặc biệt là đi đến những “vùng ngoại biên” cả về địa lý lẫn hiện sinh - đó là người nghèo, người khuyết tật, người già cô đơn, người di cư - để đưa họ vào trung tâm của sự quan tâm của xã hội.

Đức Thánh Cha chỉ ra sự phân biệt tinh tế giữa “kiến tạo hòa bình” và “nghệ thuật hòa bình”: Nếu Kiến tạo hòa bình là công việc của các định chế, các nhà nước, thông qua các hiệp ước, luật pháp và các khuôn khổ vĩ mô; thì Nghệ thuật hòa bình lại mang tính quyết định hơn. Ngay trong đời sống gia đình, khu phố hay nơi làm việc, mỗi cá nhân đều được mời gọi trở thành những “thợ thủ công của hòa bình.” Hòa bình đích thực không chỉ nằm trên các văn bản hiệp ước, nhưng được dệt nên từ những sợi chỉ nhỏ bé của kiên nhẫn, lắng nghe và thấu hiểu. [117]

3.2.3 Lòng nhân hậu và sự tử tế: Phép lạ giữa đời thường

Trong Fratelli Tutti, Đức Thánh Cha tái khám phá thuật ngữ “chrestotes” của Thánh Phaolô (Gl 5,22) - chỉ thái độ nhẹ nhàng, ân cần, và nâng đỡ - để phục hồi giá trị của lòng nhân hậu và sự tử tế.

Trong một thế giới vội vã đầy thô bạo, lo âu và cạnh tranh khốc liệt, nơi con người dễ dàng xúc phạm nhau chỉ bằng một cú nhấp chuột, lòng nhân hậu xuất hiện như một “phép lạ” có sức mạnh chữa lành to lớn. [118] Nó giải phóng con người khỏi sự tàn nhẫn và lo âu để đến với người khác.

Sự tử tế không chỉ dừng lại ở phép lịch sự hay nghi thức bề ngoài mà là nền tảng làm “mềm hóa” hơn các mối quan hệ xã hội. Lòng nhân hậu làm cho người khác cảm thấy được lắng nghe, được tôn trọng và được đón nhận. Chính sự tử tế mở đường cho đối thoại và sự ân cần làm tan chảy những tảng băng của sự thờ ơ giúp tái thiết “Cái Chúng ta” từ những điều giản dị nhất.

Sau cùng, mọi nỗ lực đối thoại sẽ trở nên vô vọng nếu những vết thương của sự chia rẽ không được chữa lành tận căn. Như người Samari đã dùng dầu và rượu để xoa dịu nỗi đau của nạn nhân, và như Đức Kitô đã dùng lòng thương xót để phục hồi nhân tính, lộ trình kiến tạo hòa bình phải đi qua con đường của Sự thật, Công lý và Tha thứ. Chỉ khi đối diện với quá khứ bằng ký ức đã được thanh luyện, chúng ta mới có thể thực sự tái thiết một “Cái Chúng ta” hòa hợp và bền vững cho tương lại.

3.3 Lộ trình kiến tạo hòa bình bền vững: Sự thật, Công lý và Tha thứ

Việc tái xây dựng “Cái Chúng ta” không thể né tránh những vết thương của quá khứ. Trong một thế giới bị xâu xé bởi chiến tranh và xung đột, Đức Thánh Cha đề xuất một tiến trình hòa giải và kiến tạo hòa bình đặt nền tảng trên Sự thật, Công lý và Tha thứ.

3.3.1 Sự thật và Công lý: Điều kiện tiên quyết của Hòa bình

Đức Thánh Cha khẳng định: Không có hòa bình đích thực nếu không có sự thật và công lý. Ngài cảnh báo về thứ hòa bình giả tạo, vốn chỉ là sự vắng mặt của tiếng súng, hoặc là sự ổn định được áp đặt bởi kẻ mạnh.

Hòa bình đích thực phải là hoa trái của công bằng. Chúng ta không thể nhân danh sự hòa hợp xã hội để yêu cầu các nạn nhân quên đi nỗi đau, hay bỏ qua những bất công mà họ đã phải gánh chịu. Làm như vậy là một hình thức bất công, giết chết họ thêm một lần nữa. Sự thật phải được phơi bày trọn vẹn và tội ác phải được gọi đúng tên.

Đồng thời, Công lý phải phục vụ cho sự sống bằng cách hàn gắn những đổ vỡ xã hội, ngăn chặn cái ác tái diễn, và giúp người phạm lỗi hoán cải. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng phải cẩn thận để công lý không biến thành sự trả thù, vì nó chỉ làm thỏa mãn cơn giận cá nhân và kéo dài vòng xoáy bạo lực.

3.3.2 Sự tha thứ và Ký ức

Chủ đề Tha thứ là một trong những điểm thách thức nhất của Thông điệp. Làm sao có thể tha thứ cho những tội ác tày trời như diệt chủng hay khủng bố? Đức Thánh Cha làm rõ rằng: Tha thứ không đồng nghĩa với lãng quên hay dung túng.

Ngược lại, ngài khẳng định: Chúng ta không được phép quên, vì “Ký ức” đóng vai trò sống còn. Việc lưu giữ ký ức về những thảm kịch trong quá khứ như một ngọn đèn hải đăng giúp các thế hệ tương lai cảnh giác trước những mầm mống của cái ác đang lẩn khuất dưới những hình thức mới. 

Chúng ta nhớ để không lặp lại sai lầm, và tha thứ để phá vỡ xích xiềng của bạo lực. Tha thứ là hành vi của ý chí tự do và là một chọn lựa can đảm. Người tha thứ không để quá khứ tàn phá và cầm tù tương lai; đồng thời, quyết định không để điều ác định hình con người mình và cộng đồng. Chỉ có sự tha thứ mới mở ra con đường tái thiết “Cái Chúng ta” trên đống tro tàn của hận thù, và cho phép những kẻ thù cũ có cơ hội để cùng nhau xây dựng một tương lai khác biệt.

Tóm lại, từ việc tái định hình chính trị như một hành vi của tình yêu thương, đến việc xây dựng văn hóa gặp gỡ và can đảm đối diện với quá khứ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trao cho nhân loại một bản thiết kế toàn diện để chữa lành thế giới. Tái thiết “Cái Chúng ta” không còn là một giấc mơ viễn vông, nhưng đã trở thành một dự án khả thi nếu mỗi người dám trở thành một ‘người thợ thủ công’ của hòa bình.

Sự nối kết giữa Laudato Si’ và Fratelli Tutti chính là lời mời gọi hiệp nhất không thể tách rời: trùng tu Ngôi nhà chung về mặt sinh thái phải đi đôi với việc tái thiết “Cái Chúng ta” về mặt nhân sinh. Nếu Laudato Si’ cung cấp khung sườn cho một nền sinh thái học toàn diện để bảo vệ không gian sống, thì Fratelli Tutti đã thổi hồn vào đó bằng hơi ấm của tình huynh đệ đại đồng. Trách nhiệm trùng tu và tái thiết không chỉ thuộc về các định chế vĩ mô mà còn là sứ mạng thiêng liêng đặt trên vai mỗi cá nhân. Để những đề xuất của bản thiết kế mang tính ngôn sứ này thực sự chuyển hóa vào thực tại, chúng ta cần đi sâu vào chiều kích dấn thân cụ thể của người Kitô hữu, bởi lẽ ơn gọi của họ là trở thành ‘muối và ánh sáng’, hiện thực hóa tình yêu Thiên Chúa trong việc chăm sóc vạn vật và phục vụ anh chị em mình.

CHƯƠNG IV
ƠN GỌI KITÔ HỮU TRONG VIỆC
TRÙNG TU NGÔI NHÀ CHUNG
VÀ XÂY DỰNG LẠI “CÁI CHÚNG TA”

Chúng ta đã đi qua một hành trình dài phân tích sự nối kết của hai Thông điệp Laudato Si’ và Fratelli Tutti và nhận ra rằng: cuộc khủng hoảng môi sinh và nhân sinh thật ra là hai mặt của một cuộc khủng hoảng duy nhất; và sự cần thiết phải cùng nhau vượt qua cuộc khủng hoảng đó. Lời mời gọi của Chúa Kitô chịu đóng đinh tại nhà thờ San Damiano xưa kia: “Phanxicô, hãy đi xây lại nhà của Ta,” một lần nữa vang lên trong thế kỷ XXI này với chiều kích rộng lớn hơn: trùng tu Ngôi nhà chung và tái thiết “Cái Chúng ta” của gia đình nhân loại.

Cuộc khủng hoảng môi sinh và sự rạn nứt của tình liên đới nhân loại không đơn thuần là những hiện tượng rời rạc thuộc về lĩnh vực xã hội học hay khoa học tự nhiên. Vì thế, việc trùng tu Ngôi nhà chung và xây dựng lại “Cái Chúng ta” không chỉ là những đáp ứng mang tính luân lý cho các vấn đề thời đại, mà chính là sự cụ thể hóa ơn gọi của người môn đệ Đức Kitô trong tiến trình lịch sử hiện nay.

Giờ đây, chúng ta sẽ tìm hiểu những đặc trưng trong ơn gọi của người Kitô hữu dưới ánh sáng của hai Thông điệp trên, và đặt vấn đề: người Kitô hữu Việt Nam sẽ sống ơn gọi đó trong tầm mức của mình ra sao?

1.   Những đặc trưng của ơn gọi Kitô hữu

1.1 Cộng tác vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa cách ý thức và tích cực

Dưới ánh sáng của Thông điệp Laudato Si’, việc chăm sóc các thụ tạo không còn là một lựa chọn tùy nghi hay một nghĩa vụ dân sự, nhưng là một phần thiết yếu của đức tin.[125] Đó cũng không phải là một gánh nặng luân lý mới, mà là sự khám phá lại niềm hạnh phúc của việc sống hài hòa trong một thế giới mà mọi thụ tạo đều phản chiếu sự khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa. Vì thế, các Kitô hữu được mời gọi cộng tác cách ý thức và tích cực để làm cho công trình tạo dựng phát triển theo ý muốn của Thiên Chúa.

Cách ý thức: Trùng tu Ngôi nhà chung và xây dựng lại “Cái Chúng ta” không chỉ là những yêu cầu đạo đức hay xã hội, nhưng là một cách thế sống ơn gọi Kitô hữu trong lịch sử hôm nay. Nói cách khác, đây không phải là “việc thêm” vào đời sống Kitô hữu, cũng không chỉ là “hệ quả phụ” của đức tin, nhưng là một phần thiết yếu của đức tin.

Cách tích cực: Người Kitô hữu hôm nay được mời gọi cộng tác, chứ không phải thay thế Thiên Chúa; và cũng không phải để đứng nhìn thế giới sụp đổ trong thái độ phó mặc cho định mệnh, nhưng là tham dự vào việc trùng tu các mối tương quan mà tội lỗi - cá nhân và cơ cấu - đã làm rạn nứt.

1.2 Người Kitô hữu được gọi để “ở giữa” chứ không “đứng ngoài”

Một đặc tính quan trọng khác của ơn gọi Kitô hữu chính là sự hiện diện mang tính dấn thân: người Kitô hữu không được Thiên Chúa cứu “ra khỏi” thế giới, nhưng được cứu cho thế giới. Vì thế, Mạc khải Kitô giáo không dẫn đến việc rút lui khỏi thế giới hay chỉ chăm lo phần rỗi cá nhân, mà dẫn đến một cách hiện diện mới trong thế giới - như men, như muối, như ánh sáng. Do đó, nếu Ngôi nhà chung đang bị tổn thương và “Cái Chúng ta” đang tan rã - thành cá nhân, nhóm lợi ích, bản sắc khép kín - thì đó chính là nơi ơn gọi Kitô hữu phải được sống, chứ không phải ở bên lề.

Vị trí của Kitô hữu là đứng giữa những vết nứt của lịch sử để chữa lành. Điều này đòi hỏi một sự phá đổ thói thờ ơ đang làm chai sạn lương tâm nhân loại trước tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo. Trước tình cảnh đó, Đức Thánh Cha Phanxicô cảnh báo về thái độ dửng dưng làm ngơ hay sự cam chịu mù quáng hoặc tin tưởng cách ngây thơ vào những giải pháp kỹ thuật. Tất cả đều là rào cản cho sự hoán cải. Sự dửng dưng không chỉ là một khiếm khuyết đạo đức mà là một hình thức đồng lõa với cái ác. Ơn gọi Kitô hữu hôm nay buộc chúng ta phải bước ra khỏi “bong bóng” của sự tiện nghi cá nhân để cúi xuống chạm vào những thương tích của thế giới như người Samari nhân hậu. Bởi vì, chúng ta không thể không nhận ra rằng: một cách tiếp cận sinh thái đúng đắn luôn là một cách tiếp cận xã hội... để nghe thấy cả tiếng kêu của trái đất cũng như tiếng kêu của người nghèo. Chính tại điểm tiếp xúc này, căn tính người môn đệ Đức Kitô được định hình và tỏa sáng.

1.3 Một ơn gọi mang tính chứng tá

Người Kitô hữu không có sẵn các “giải pháp kỹ thuật” cho khủng hoảng sinh thái - xã hội. Họ được mời gọi làm chứng cho một cách sống khác. Đó là: sống liên đới thay vì loại trừ; sống tiết độ thay vì khai thác vô hạn; và sống huynh đệ thay vì thống trị. Nói cách khác, “Cái Chúng ta” Kitô giáo không mang tính áp đặt, nhưng mở ra: cho tha nhân, cho người nghèo, cho các thế hệ tương lai và nhất là mở ra cho chính Thiên Chúa. Như Đức Thánh Cha nói: “Linh đạo Kitô giáo đề xuất một cách hiểu khác về chất lượng cuộc sống […] không bị ám ảnh bởi việc tiêu thụ.”

Yêu thương người anh em không chỉ là cứu trợ nhất thời, mà là nỗ lực thay đổi những cấu trúc xã hội bất công và xây dựng những thể chế phục vụ công ích. Lòng nhân hậu và sự tử tế trong ứng xử hằng ngày sẽ trở thành những “phép lạ nhỏ bé” giúp làm tan chảy những tảng băng của sự thờ ơ và khơi dậy niềm hy vọng vào một tương lai chung. Kitô hữu phải trở thành những “người thợ thủ công của hòa bình,” dệt nên những sợi chỉ nhỏ bé của sự thấu hiểu và tha thứ để tái thiết “Cái Chúng ta” ngay từ những điều giản đơn nhất.

Tóm lại, trùng tu Ngôi nhà chung và xây dựng “Cái Chúng ta” không phải là hai sứ mạng tách biệt, mà là một ơn gọi duy nhất và toàn vẹn của người Kitô hữu giữa lòng thế giới hôm nay. Đó là sự đáp trả đầy tình yêu đối với tiếng kêu của trái đất và đồng loại, một hành trình hoán cải sinh thái và nhân văn sâu sắc để trái đất thực sự trở thành nơi ngự trị của tình huynh đệ và là nơi phản chiếu vinh quang của Đấng Tạo Hóa.

2. Sống ơn gọi Kitô hữu cách cụ thể tại Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam hôm nay, nơi thiên nhiên đang phải gánh chịu những tổn thương nặng nề và các mối tương quan xã hội ngày càng trở nên rạn nứt, việc trùng tu Ngôi nhà chung và xây dựng lại “Cái Chúng ta” không đơn thuần là một trách nhiệm xã hội hay phong trào nhân đạo, nhưng là cách thế cụ thể để người Kitô hữu thực sống trung thành với ơn gọi của mình. Khởi đi từ nhận thức đó, đây cũng là con đường mà người mục tử được mời gọi để dấn thân đồng hành cùng cộng đoàn, để Tin Mừng thực sự trở thành men biến đổi tận căn đời sống cá nhân và xã hội.

2.1  Thực trạng ở Việt Nam: hai cuộc khủng hoảng chồng lên nhau

2.1.1 Khủng hoảng môi sinh

Ở Việt Nam, như đã trình bày ở phần thực trạng, cuộc khủng hoảng môi sinh không còn là một khái niệm học thuật xa lạ hay trừu tượng, mà hiện hữu qua những thực trạng khốc liệt hằng ngày. Tuy nhiên, điều nguy hiểm nhất không chỉ nằm ở những thiệt hại vật chất, mà chính là sự hình thành một “tâm thức thích nghi tiêu cực” - dần quen với việc sống trong một môi trường bị tàn phá và coi đó là điều “bình thường” Điều này đã khiến lương tâm của chúng ta chai sạn trước những vết thương của tạo thành. Không ít Kitô hữu cũng đã dự phần vào cái “vòng lặp” đó.

2.1.2 Khủng hoảng nhân sinh

Song song với những đổ vỡ của môi trường tự nhiên chính là sự tan rã âm thầm nhưng đau đớn của tình liên đới trong đời sống xã hội. Sự tan rã này được biểu hiện qua sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân thực dụng, nơi những giá trị của gia đình bị rạn nứt và các cộng đoàn giáo xứ dù sống cạnh nhau nhưng lại không hiện hữu “với nhau”. Hệ quả tất yếu là những người nghèo, người yếu thế và những người bị gạt ra bên lề xã hội càng trở nên đơn độc hơn bao giờ hết. Đây chính là thực tế mà Thông điệp Fratelli Tutti đã định nghĩa: sự suy yếu của cảm thức thuộc về một nhân loại duy nhất, và căn tính cộng đồng bị hy sinh cho những lợi ích vị kỷ. 

2.2 Đường hướng mục vụ cho giáo dân Việt Nam

Dĩ nhiên, đối tượng mục vụ mà Giáo hội nhắm đến là mọi thành phần Dân Chúa. Tuy nhiên, để vấn đề được khai triển một cách cụ thể và thực tế hơn, tôi muốn - trong tư cách là một mục tử tương lai - giới hạn đối tượng suy tư của mình vào người giáo dân Việt Nam.

2.2.1 Với chính mình: hoán cải lối sống

Trước hết, tôi sẽ từng bước giúp giáo dân hiểu rằng việc bảo vệ môi sinh phải khởi đi từ cuộc hoán cải trong chính đời sống cá nhân, chứ không phải từ những khẩu hiệu lớn mang tính hình thức. Để hiện thực hóa điều này, tôi nghĩ đến những thực hành mục vụ cụ thể như:

  • Một là, giúp giáo dân rèn luyện lối sống tiết độ Kitô giáo, học cách khước từ lối sống phô trương và thói quen tiêu thụ vô độ­­ vốn đang là căn bệnh của thời đại;
  • Hai là, khơi gợi cho họ thấy mối liên kết tâm linh giữa việc “chay tịnh – hy sinh” với trách nhiệm môi sinh, thông qua những hành động giản đơn như giảm thiểu rác thải, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên (như tiết kiệm điện, nước…);
  • Ba là, giúp họ khắc ghi một xác tín quan trọng: sống tiết độ không phải là làm cho mình nghèo đi hay thiếu thốn, mà là để trở nên tự do hơn, không bị lệ thuộc vào vật chất.

Tất nhiên, những thực hành này không chỉ là hành vi xã hội, mà chính là linh đạo sinh thái đích thực theo lời dạy của Đức Thánh Cha Phanxicô.

2.2.2 Với tha nhân: chữa lành “Cái Chúng ta” trong cộng đoàn

Bên cạnh việc hoán cải cá nhân, việc tái thiết tương quan với tha nhân là một ưu tiên không thể tách rời. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, nhiều giáo xứ tuy có số lượng tín hữu đông đảo và sinh hoạt nhộn nhịp, nhưng đáng tiếc lại thiếu đi chiều sâu của tình huynh đệ. Do đó, tôi thấy cần đề ra những hướng đi mục vụ cụ thể, dựa trên lời nhắc nhở của Fratelli Tutti: Không ai được cứu một mình:

  • Thứ nhất, tái nhấn mạnh với giáo dân về căn tính của giáo xứ như một “gia đình của các gia đình”, nơi mọi sinh hoạt đạo đức phải dẫn đến sự gắn kết nhân vị chứ không chỉ là thực hành tôn giáo;
  • Thứ hai, nhắc nhở cộng đoàn phải dành sự ưu tiên đặc biệt cho người nghèo, người di dân, người già và những người bị bỏ quên trong giáo xứ, giáo họ hay giáo khu mà không có sự phân biệt lương hay giáo;
  • Thứ ba, nỗ lực xây dựng các nhóm nhỏ như hội đoàn, nhóm liên gia hay chia sẻ Lời Chúa để “Cái Chúng ta” có được một gương mặt cụ thể và gần gũi nhất.

2.2.3 Với thiên nhiên: từ “sử dụng” sang “chăm sóc”

Tiếp nối sự thay đổi trong tương quan xã hội, tôi sẽ từng bước giúp giáo dân chuyển đổi lối suy nghĩ từ việc coi thiên nhiên là đối tượng để khai thác sang nhãn quan mới: thiên nhiên là quà tặng được trao phó. Để lời dạy này có thể đi vào thực tế, tôi sẽ đưa ra những hành động mục vụ như:

  • Trước tiên, giáo xứ phải đi bước trước để trở thành gương mẫu trong các vấn đề môi trường như: không xả rác bừa bãi, tiết kiệm nước và tích cực trồng cây xanh trong khuôn viên và trong khu xóm;
  • Tiếp đến, vào các dịp lễ hội, cần hạn chế tối đa sự lãng phí và cắt giảm sử dụng nhựa dùng một lần;
  • Cuối cùng, cần dành nhiều thời gian để giáo dục thiếu nhi và giới trẻ về trách nhiệm với thiên nhiên.

Trong mọi việc, điều quan trọng nhất là Giáo hội cần làm trước, nói sau; cha xứ, Hội đồng giáo xứ và các chức việc phải là những người nêu gương hàng đầu.

2.2.4  Với Thiên Chúa: tái nối môi sinh với đức tin

Sau cùng, nhưng lại là nền tảng nhất, người mục tử cần giải quyết một nguy cơ lớn trong các giáo xứ, đó là: việc bảo vệ môi sinh bị tách rời khỏi đời sống đức tin, trở thành chuyện “ngoài đạo”. Tôi xác tín rằng vai trò mục tử của tôi cốt ở việc nối kết: Phụng vụ - Cầu nguyện - Đời sống lại với nhau. Để đạt được điều đó, tôi sẽ: thỉnh thoảng đưa ý cầu nguyện cho môi sinh và người nghèo vào trong các giờ phụng vụ chính thức. Đồng thời, trong các bài giảng, tôi sẽ khéo léo cho giáo dân thấy rằng tội lỗi không chỉ dừng lại ở phương diện cá nhân mà còn có chiều kích môi sinh và xã hội. Mục tiêu cuối cùng là giúp giáo dân thấu cảm rằng: chăm sóc Ngôi nhà chung chính là một cách thức thờ phượng Thiên Chúa đích thực và sống động nhất.

Tóm lại, với tư cách là người mục tử, tôi ý thức sâu sắc rằng mình không được mời gọi để đưa ra những giải pháp kỹ thuật cho mọi vấn đề môi sinh hay xã hội. Thay vào đó, sứ mạng chủ yếu của tôi là khơi gợi nơi cộng đoàn, nơi những giáo dân của mình một ý thức nhạy bén rằng: sống đức tin hôm nay bao hàm trách nhiệm trùng tu Ngôi nhà chung và xây dựng lại “Cái Chúng ta”. Quả vậy, mục tử chính là người giúp giáo dân đọc ra những dấu chỉ của thời đại, từ đó giúp họ nhận ra và thực thi ơn gọi cao quý của mình trong dòng chảy lịch sử hôm nay.

KẾT LUẬN

Sau khi tìm hiểu và phân tích về những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng lo ngại về môi sinh và tình liên đới của thế giới và quê hương Việt Nam dưới ánh sáng của hai Thông điệp Laudato Si’ và Fratelli Tutti của Đức Thánh Cha Phanxicô, tôi đi đến xác tín rằng: Ơn gọi của người Kitô hữu hôm nay không thể tách rời khỏi trách nhiệm trùng tu Ngôi nhà chung và xây dựng “Cái Chúng ta” - tình huynh đệ đại đồng.

Nhìn lại hành trình nghiên cứu đã đi qua, từ “triệu chứng” đến “căn nguyên” và “phương dược” cho cả hai cuộc khủng hoảng, tôi rất tâm đắc với nhận định của Đức Thánh Cha: cuộc khủng hoảng môi sinh và sự tan vỡ của tình huynh đệ không phải là hai vấn đề tách biệt, mà là hai biểu hiện của một căn bệnh tinh thần chung - sự kiêu ngạo của Mô hình Kỹ trị và sự lệch lạc của Chủ trương “Quy nhân luận hiện đại”. Khi con người tự coi mình là trung tâm tuyệt đối, họ không chỉ biến thiên nhiên thành đối tượng để khai thác và vắt kiệt, mà còn biến đồng loại thành món hàng để sử dụng và loại bỏ.

Thật thú vị, trong thời gian tìm kiếm tài liệu để viết tiểu luận này, tôi may mắn được tiếp cận với nhãn quan của thần học gia François Euvé. Nhờ ông, tôi thấy được mối liên kết sâu xa của hai Thông điệp, và tôi hiểu ra rằng thế giới không phải là một sản phẩm tĩnh tại đã hoàn tất, mà là một công trình sáng tạo đang tiếp diễn. Quan điểm này thay đổi rất nhiều cách tôi tiếp cận vấn đề: khủng hoảng không chỉ là thảm họa, mà là một lời mời gọi khẩn thiết để con người sống ơn gọi Kitô hữu cách thật sự, làm “người cộng sự” của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng của Ngài. Tôi cũng rất thích thú với phương dược mà Đức Thánh Cha Phanxicô đề nghị: đó không là gì khác hơn là một Nền Sinh thái học Toàn diện gắn liền với Tình huynh đệ đại đồng. Đó là sự chuyển dịch từ "văn hóa vứt bỏ" sang “văn hóa chăm sóc”, từ những “cái tôi” đơn lẻ và vị kỷ sang một “Cái Chúng ta” hiệp thông, nơi phẩm giá của mọi thụ tạo và mọi nhân vị đều được trân trọng.

Thú thực trong quá trình viết tiểu luận này đã có một cuộc “dịch chuyển” (déplacement) sâu sắc trong chính tâm tư của tôi, một mục tử trong tương lai. Ban đầu, tôi tiếp cận đề tài này như một tiểu luận học thuật thuần túy, một nhiệm vụ phải hoàn thành trong chương trình đào tạo. Tôi khá tự tin vì trong suốt 6 – 7 năm ở Đại Chủng viện, tôi đã nỗ lực đọc, tra cứu và hệ thống hóa kiến thức với mục đích hiểu biết sâu hơn về đạo lý Kitô giáo, cách riêng về Giáo huấn Xã hội của Giáo hội. Thế nhưng, khi đào sâu những gì Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói trong hai Thông điệp và nhận định của thần học gia dòng Tên François Euvé, tôi đã nhận ra rằng: mình không thể đứng ngoài quan sát công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Trái lại, chính mình là một thành phần trong một thế giới, một môi sinh đang trong tình trạng hiểm nghèo. Đối diện với những thảm trạng môi sinh và những thảm kịch nhân sinh đang hiện hữu xung quanh mình, tôi ý thức mình không còn có thể giữ cái nhìn bàng quan của người ngoài cuộc. Môi sinh đang bị tận diệt, “Cái Chúng ta” đang tan rã đã trở thành nỗi trăn trở của chính tôi.

Tâm tư đó dẫn tôi đến câu hỏi: Là một người Kitô hữu Việt Nam, tôi đã ở đâu khi đất mẹ đang rên xiết? Tôi đã làm gì khi “Cái Chúng ta” trong đất nước thân yêu của mình đang bị rạn nứt bởi sự gian dối và vô cảm? Việc biên soạn tiểu luận này giúp tôi nhận ra ơn gọi của mình dưới một ánh sáng mới. Người tín hữu Việt Nam hôm nay, trong đó có tôi, không được phép hài lòng với một đức tin chỉ gói gọn trong các nghi lễ phụng vụ tại nhà thờ, nhưng chúng ta được mời gọi để “nhập thể” giữa lòng dân tộc, trở thành những “người thợ thủ công” của sự tử tế và chính trực.

Việc trùng tu Ngôi nhà chung Việt Nam bắt đầu từ những lựa chọn giản dị nhưng mang tính tiên tri: là sự tiết độ trong tiêu dùng để chống lại chủ nghĩa thực dụng; là sự chính trực trong lao động để đẩy lùi bóng tối của tham nhũng; và là sự dấn thân bền bỉ để kiến tạo những nhịp cầu liên đới giữa một xã hội đầy rẫy sự chia rẽ. Chúng ta phải làm sao để cho đức ái chính trị trở nên sống động, để tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo thực sự được lắng nghe trong mọi quyết sách của cộng đoàn.

Bài tiểu luận của tôi khép lại với một niềm hy vọng lớn lao. Trùng tu Ngôi nhà chung và xây dựng lại “Cái Chúng ta” không phải là một gánh nặng luân lý, mà là một ân huệ. Đó là cơ hội để mọi Kitô hữu, trong đó có tôi, sống trọn vẹn căn tính của mình, những thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa - Đấng là Tình Yêu Hiệp Thông. Ước mong rằng mỗi Kitô hữu chúng ta qua cuộc hoán cải sinh thái và nhân văn này, sẽ thực sự trở thành muối cho đời và ánh sáng cho trần gian, để quê hương Việt Nam không chỉ xanh hơn về môi trường, mà còn ấm áp hơn về tình người, xứng đáng là nơi phản chiếu vẻ đẹp vĩnh cửu của Đấng Tạo Hóa.

 

 

THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Kinh Thánh và Huấn quyền

Kinh Thánh. Lời Chúa cho mọi người. Bản dịch của Nhóm Phiên dịch các giờ kinh Phụng vụ. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2013.

BẢN TUYÊN BỐ CỦA HỘI NGHỊ THẾ GIỚI VỀ TÌNH HUYNH ĐỆ NHÂN LOẠI NGÀY 10.06.2023. Chuyển ngữ Ngọc Diệp. Truy cập 16/09/2025. Https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/ban-tuyen-bo-cua-hoi-nghi-the-gioi-ve-tinh-huynh-de-nhan-loai-ngay-10-06-2023-51037.

Bộ Giáo lý Đức tin. Tuyên ngôn Dignitas Infinita về phẩm giá con người. Phan Văn Phi chuyển ngữ. HCM: NXB Đồng Nai, 2024.

Công đồng Vatican II. Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes), 07/12/1965. Bản dịch của Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2016.

Sách giáo lý Hội Thánh Công giáo. Bản dịch của Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2016.

Leo XIV. Thông điệp Dilexi Te. Lê Công Đức chuyển ngữ. HCM: NXB Đồng Nai, 2025.

DIỄN VĂN ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV DÀNH CHO HỘI NGHỊ THẾ GIỚI VỀ TÌNH HUYNH ĐỆ NHÂN LOẠI LẦN THỨ III - NĂM 2025. Chuyển ngữ Tri Khoan. Truy cập 16/09/2025. Https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dien-van-duc-thanh-cha-leo-xiv-danh-cho-hoi-nghi-the-gioi-ve-tinh-huynh-de-nhan-loai-lan-thu-iii--nam-2025.

Phanxicô. Thông điệp Về tình huynh đệ và tình thân hữu xã hội (Fratelli Tutti). Lê Công Đức chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2020.

Thông điệp Về việc chăm sóc ngôi nhà chung (Laudato Si’). Bản dịch của Ủy ban Bác ái Xã hội – Caritas Việt Nam trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2015.

Tông huấn Laudate Deum: Gửi tất cả những người có thiện chí về cuộc khủng hoảng khí hậu. Bản dịch của Ủy ban Công lý và Hòa bình trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2023.

“Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân ngày thế giới cầu nguyện cho việc chăm sóc thụ tạo năm 2024.” Truy cập 10/10/2025. Https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-duc-thanh-cha-nhan-ngay-the-gioi-cau-nguyen-cho-viec-cham-soc-thu-tao-nam-2024-hy-vong-va-hanh-dong-voi-thu-tao.

Ủy ban Bác ái xã hội trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2007.

 2. Sách

Trần Ngọc Anh. Nhân học Kitô giáo, tập 1:Tạo dựng – Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. HCM: NXB Đồng Nai, 2018.

________. Nhân học Kitô giáo, tập 2: Con người trên hành trình đức tin. Phần 3: Ân Sủng. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2020.

Ban thường huấn Linh mục. Laudato Si’, Sinh thái: Giao ước mới với Ngôi nhà chung. TGM Qui Nhơn: Tủ sách Nước mặn, 2020

3. Tạp chí và Nội san

Hội đồng Giám mục Á châu (FABC). Cùng nhau tiến bước như các dân tộc châu Á “…và họ đã đi một con đường khác” (Mt 2,12), Đại hội FABC 50, văn kiện kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC), Văn kiện Bangkok – Thái Lan. Chuyển ngữ Nguyễn Khắc Minh. Trong Ủy ban Loan báo Tin mừng thuộc HĐGMVN. Hiệp thông, số 136 (tháng 7&8/ 2023). Hiệp thông trong cuộc sống.

Lê Đức. Đào tạo và nuôi dưỡng một lương tâm sinh thái nơi tín hữu Kitô giáo. Hiệp thông, số 144 (tháng 11&12/2024).

Nội san Stella Maris Seminary. Giáo huấn xã hội Công giáo, tình liên đới nhập thể. Chủng sinh Giáo phận Nha Trang, số 5, tháng 9/2023.

Timothy Barga. Thần học mạng trong kỷ nguyên cách mạng số. Trong Thời sự thần học, số 106 (tháng 11/2024).

4. Websites

Action Against Hunger. “Conflict and Hunger.” Truy cập 20/10/2025. Https://www.actionagainsthunger.org.uk/why-hunger/conflict.

Agenzia Fides. “ASIA/VIETNAM – Divorce rate rising: Tendency less pronounced among Catholics.” Truy cập 27/10/2025. Https://www.fides.org/en/news/73881.

Euvé, François và Elena Lasida. “FRATELLI TUTTI.” Revue Études. Truy cập 30/10/2025. Https://www.revue-etudes.com/article/fratelli-tutti/23054.

Global Forest Watch. “Global Forest Loss Data 2024.” Truy cập 20/10/2025. Https://www.globalforestwatch.org.

Health Effects Institute. “State of Global Air Report 2024.” Truy cập 13/10/2025. Https://www.stateofglobalair.org/.

IQAir. “2024 IQAir World Air Quality Report.” Truy cập 26/10/2025. Https://www.iqair.com/newsroom/waqr-2024-pr.

Mulholland, Séamus. “Các Dấu Thánh: Hành Trình Tìm Kiếm Và Ý Nghĩa.” Truy cập 27/02/2026. Https://ofmvn.org/bai-viet/hoi-dap/cac-dau-thanh-hanh-trinh-tim-kiem-va-y-nghia.

NASA. “Climate Change: Evidence.” Truy cập 26/10/2025. Https://science.nasa.gov/climate-change/evidence/.

Nguyễn Đức Thông. “Giới trẻ sống Thông điệp Fratelli Tutti – Sống tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội.” Truy cập 29/04/2025. Https://dcvphanxicoxavie.com/vn/Muc-Vu-Truyen-Giao/Gioi-tre-song-Thong-diep-Fratelli-Tutti-Song-tinh-huynh-de-va-tinh-bang-huu-xa-hoi.html.

Nguyễn Hoàng Đức. “Thực trạng ô nhiễm không khí tại Việt Nam: Nguyên nhân, giải pháp và đề xuất, kiến nghị.” Truy cập 25/10/2025. Https://tapchimoitruong.vn/dien-dan--trao-doi-21/thuc-trang-o-nhiem-khong-khi-tai-viet-nam-nguyen-nhan-giai-phap-va-de-xuat-kien-nghi-32324.

Nguyễn Kim Ngân. “HIỆP THÔNG NHÂN VỊ và QUẢN LÝ TẠO VẬT, Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa.” Truy cập 23/9/2023.  Https://xuanbichvietnam.wordpress.com/2009/03/11/hiep-thong-nhan-vi-va-quan-ly-tao-vat/.

Transparency International. “Vietnam – Corruption Perceptions Index (CPI) 2024.” Truy cập 27/10/2025. Https://www.transparency.org/en/countries/vietnam.

Trần Đức Anh. “Tóm lược Thông Ðiệp “Laudato sí” của Ðức Thánh Cha Phanxicô, dịch từ bản tóm lược chính thức của Hội Ðồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình.” Truy cập 30/04/2025. Https://vntaiwan.catholic.org.tw/15news/15news0689.htm.

UNICEF. “Water Security for Every Child.” Truy cập 13/10/2025. Https://www.unicef.org/press-releases/1-3-children-exposed-severe-water-scarcity-unicef.

United Nations. “The Paris Agreement.” Truy cập 26/10/2025. Https://www.un.org/en/climatechange/paris-agreement.

Vietnam News. “Online frauds caused $744 million in damages in 2024.” Truy cập 27/10/2025. Https://vietnamnews.vn/society/1689079/online-frauds-caused-744-million-in-damages-in-2024.html.

World Health Organization (WHO). “Air pollution.” Truy cập 26/10/2025. Https://www.who.int/health-topics/air-pollution.