Đôminicô VŨ MINH THIỀU
Khoá XIX [2018 - 2026] - ĐCV Sao Biển Nha Trang
Hướng dẫn Tiểu luận: L.m Antôn Trương Cao Định
Tiểu luận Tốt nghiệp Thần học 2025 - 2026
CHƯƠNG I: Ý NIỆM VỀ SỰ PHỤC SINH THÂN XÁC
TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM
4. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam
CHƯƠNG II: NIỀM TIN THÂN XÁC PHỤC SINH NƠI KITÔ GIÁO
1. Niềm tin thân xác phục sinh trong Thánh Kinh
2. Niềm tin thân xác phục sinh trong Thánh Truyền
2.1. Sự phục sinh của Chúa Kitô
là nền tảng cho sự phục sinh của nhân loại
2.2. Niềm tin vào sự phục sinh thân xác
là nền tảng của đời sống Kitô giáo
3. Ý nghĩa thần học của tín điều thân xác phục sinh
3.1. Phục sinh là sự tái tạo con người toàn thể
3.2. Thân xác phục sinh vừa đồng nhất, vừa được biến đổi
3.3. Thân xác con người sẽ phục sinh cùng toàn thể vũ trụ
CHƯƠNG III: NIỀM TIN THÂN XÁC PHỤC SINH
VÀ ĐỜI SỐNG CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Thực trạng của giới trẻ Việt Nam hiện nay
1.2. Sống dửng dưng - khép kín
1.3. Sống yếu nhược - tiêu cực
2. Giá trị của tín điều Thân xác phục sinh đối với giới trẻ Việt Nam hiện nay
2.2. Sống nhân ái - thân thiện
2.3. Sống kiên cường - tích cực
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1Cr Thư thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côrintô
1Sm Sách Samuel (quyển 1)
2Mcb Sách Macabê (quyển 2)
Am Sách Amốt
Cl Thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côlôxê
Cv Sách Công Vụ Tông Đồ
Dt Thư gửi tín hữu Do Thái
Đn Sách Đaniel
Đnl Sách Đệ Nhị Luật
Ed Sách Ngôn sứ Êdêkiel
Ga Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan
Hs Sách Ngôn sứ Hôsê
Is Sách Ngôn sứ Isaia
Kn Sách Khôn Ngoan
Lc Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca
Mc Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Máccô
Mt Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mátthêu
Pl Thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Philipphê
Rm Thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma
St Sách Sáng Thế
Tv Thánh Vịnh
Ibid. Cùng một chỗ
NXB Nhà xuất bản
Con người trong mọi thời đại, dù thuộc bất kỳ nền văn hóa hay tôn giáo nào, đều không ngừng trăn trở về số phận của mình sau khi chết. Những vấn nạn về sự sống đời sau, về mối tương quan giữa linh hồn và thân xác, về ý nghĩa thân phận hữu hạn của con người, v.v., vẫn luôn là nỗi khắc khoải thẳm sâu trong tâm thức của nhân loại.
Trong bối cảnh ấy, ngay từ những thế kỷ đầu, Kitô giáo đã xác tín về sự phục sinh của thân xác, nơi biến cố phục sinh của Chúa Kitô. Giáo Hội khẳng định rằng Thiên Chúa không chỉ cứu độ linh hồn, nhưng là cứu độ con người toàn thể (bao gồm cả linh hồn và thân xác). Nói cách khác, thân xác con người cũng sẽ được Thiên Chúa biến đổi và cho sống lại trong ngày sau hết. Trái ngược với quan niệm trên, dưới ảnh hưởng sâu sắc của Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) và tín ngưỡng dân gian (bản địa), người Việt Nam đã hình thành nên một quan niệm đặc thù về con người và thế giới bên kia. Theo đó, quan niệm này nhấn mạnh đến sự bất tử của linh hồn, còn thân xác chỉ được xem như một thực tại tạm bợ, mai sau sẽ trở về với cát bụi và không có khả năng phục sinh.
Sự khác biệt căn bản này không dừng lại ở bình diện lý thuyết, nhưng còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quan và cách sống hiện tại của con người, cách riêng nơi giới trẻ Việt Nam hiện nay. Cụ thể, khi thân xác bị xem nhẹ hoặc bị coi như một phương tiện, họ dễ rơi vào hai thái cực: hoặc xem thường thân xác và các giá trị vật chất, hoặc ngược lại, đắm chìm trong lối sống hưởng thụ và biến thân xác thành công cụ để thỏa mãn những nhu cầu nhất thời. Những khuynh hướng này được bộc lộ rõ nét nơi đời sống của một bộ phận giới trẻ Việt Nam, qua việc xem thường thân thể, qua một đời sống nội tâm nghèo nàn, cũng như qua sự suy giảm trong các giá trị luân lý và tương quan xã hội. Điều đó đặt ra một câu hỏi mang tính cấp thiết: Đâu là giá trị của tín điều thân xác phục sinh nơi Kitô giáo trong việc tái định hướng nhân sinh quan và trách nhiệm cá nhân cho giới trẻ Việt Nam hiện nay?
Chính từ những ưu tư ấy, bài viết này muốn tìm hiểu một cách có hệ thống về tín điều thân xác phục sinh nơi Kitô giáo; qua đó hướng tới việc khai mở những giá trị đức tin và nhân sinh mà nó mang lại cho giới trẻ Việt Nam hiện nay. Bố cục bài viết gồm ba phần chính: Trước hết, trong chương I, chúng ta sẽ tìm hiểu ý niệm về sự phục sinh của thân xác trong văn hóa Việt Nam, dưới sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Tiếp đến, chương II sẽ trình bày về tín điều thân xác phục sinh nơi Kitô giáo, dựa trên nền tảng Kinh Thánh và Thánh Truyền, đồng thời phân tích ý nghĩa thần học của tín điều này dưới nhãn quan Kitô giáo. Cuối cùng, chương III sẽ cho thấy thực trạng đời sống của giới trẻ Việt Nam hiện nay; đồng thời chỉ ra những giá trị thực tiễn mà tín điều có thể mang lại cho họ trong việc xây dựng một lối sống lành mạnh, nhân bản và hướng thiện.
Từ đó, bài viết cũng hy vọng góp phần vào công cuộc mục vụ cho giới trẻ Việt Nam hiện nay, giúp họ không chỉ hiểu đúng về thân xác mình dưới ánh sáng đức tin, mà còn biết sống xứng đáng với phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa đã ban tặng: Con người toàn thể (với thân xác và linh hồn) được Thiên Chúa yêu thương, tạo dựng và cứu độ.
Dưới ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng của Tam Giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) và tín ngưỡng dân gian, người Việt Nam đã hình thành nên một quan niệm đặc thù về con người và thế giới bên kia, trong đó không có ý niệm về sự phục sinh của thân xác mà chỉ tồn tại sự sống của linh hồn sau khi chết.
Tác giả Trương Đình Tín cho rằng ba tôn giáo lớn: Nho, Lão, Phật du nhập vào Việt Nam quá lâu nên đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam. Một người Việt Nam có thể vừa là một tín đồ Nho giáo, vừa là tín đồ Đạo giáo, nhưng cũng còn là một tín đồ Phật giáo. Vì thế, có thể nói hầu như nhà nào cũng chịu ảnh hưởng của cả ba tôn giáo, vì ba tôn giáo này đều quan niệm nơi con người bên cạnh phần xác dễ bị hủy hoại, còn có phần hồn luôn bất diệt. Chính vì thế nên tuy người thân đã mất nhưng người Việt Nam luôn tin rằng linh hồn của họ vẫn còn hiện diện trong nhà để bảo vệ và giúp đỡ con cháu.[1]
Theo tác giả Gustave Dumoutier, Phật giáo nói chung quan niệm cái chết không phải là điểm kết thúc cuối cùng, mà chỉ là sự chuyển tiếp trong chuỗi xoay vần gồm: sinh, lão, bệnh, tử, chuộc tội và tái sinh ở dương gian. Sau khi chết, linh hồn con người vẫn sống theo thuyết luân hồi. Chuỗi xoay vần vĩnh viễn này diễn ra liên tục, với mục đích làm linh hồn được hoàn thiện hơn, giúp linh hồn mài giũa được bản chất thuần khiết bằng việc thực hành từ bi và nhẫn nhịn.[2]
Cụ thể hơn, một nghiên cứu về Phật giáo của tác giả Nguyễn Hạnh cho thấy tôn giáo này quan niệm rằng chúng sinh sẽ tái sinh ngay sau khi chết vào một trong sáu cõi luân hồi: cõi trời, cõi thần, cõi người, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ và cõi địa ngục. Nếu như chưa đạt đến mức thoát được cõi vô minh, linh hồn sẽ mãi ở trong vòng luân hồi ấy.[3] Trong khi đó, tác giả Gustave Dumoutier chỉ ra cơ chế của quá trình này: sau mỗi lần tái sinh ở dương gian, linh hồn phải được chuộc tội bằng những hình phạt trong những tầng địa ngục khác nhau; sau khi chuộc tội xong, linh hồn sẽ nhận thêm hay mất đi tinh lực (tương ứng với mức độ xứng đáng hay không xứng đáng), điều này sẽ quyết định cuộc sống kiếp sau của linh hồn. Nếu có tinh lực tốt, linh hồn sẽ được tái sinh trong cuộc sống tốt đẹp hơn kiếp trước; ngược lại, linh hồn sẽ phải đầu thai trong cuộc sống tệ hại hơn, thậm chí phải bị hạ xuống cõi súc sinh. Đỉnh cao nhất trong vòng luân hồi là trạng thái thuần khiết tối cao. Khi đó, linh hồn đạt được sự giác ngộ thiêng liêng, được giải thoát vĩnh viễn, không còn bám lụy vào tham, sân, si và vòng luân hồi.[4]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hạnh, khác với Phật giáo, Nho giáo cho rằng con người được tạo thành bởi khí và lý. Cụ thể, việc sống hay chết là do sự vận hành của khí. Khí tụ lại thì sinh ra, khí tản ra thì chết đi, người hay loài vật cũng đều theo quy luật ấy. Khi con người chết, hình hài thân xác bị tan biến như gỗ, đá; lý thoát ra tạo nên vong hồn bay đi như gió hay lửa. Nói cách khác, khi chết, xương thịt con người thành đất, máu thành nước, linh hồn về trời hoặc về với tổ tiên và quây quần bên con cháu.[5]
Như vậy, nơi Nho giáo, không có khái niệm Thiên đường, Niết bàn hay Địa ngục, v.v., mà con người sau khi chết đi sẽ luôn ở bên cạnh những người đang sống. Quan niệm này được phản ánh cách rõ nét trong văn học Việt Nam, như trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du với câu: “Thác là thể phách, còn là tinh anh.”[6] Tóm lại, với Nho giáo, con người chết là chết về phần thân xác, còn tinh anh, tinh thần vẫn tiếp tục tồn tại trong không trung.[7]
Khi tìm hiểu về Đạo giáo, tác giả Nguyễn Hạnh thấy rằng tôn giáo này không tập trung bàn đến các phạm trù: Thượng đế, Linh hồn, Thiên đàng, Hỏa ngục, v.v. Thay vào đó, Đạo giáo cho rằng nếu tu đạo thành tiên thì sẽ chẳng sống cũng chẳng chết. Nguồn gốc con người và vạn vật từ Đạo mà ra nên cuối cùng sẽ trở về và hòa làm một với Đạo. Vì vậy, con người phải thấm nhuần nguyên lý vô vi, nghĩa là phải thuận với tự nhiên và cùng với tự nhiên biến hóa.[8]
Trong cùng chiều hướng ấy, tác giả Nguyễn Đăng Duy cho biết thêm, theo Đạo giáo, mỗi con người sống gắn liền với một vì sao trên trời; người ấy qua đời khi vì sao ấy tắt. Xuất phát từ niềm tin này, Đạo giáo cho rằng con người chết là về cõi tiên nên các bức chướng, phúng đám tang thường để mấy chữ bồng lai tiên cảnh.[9]
Trong khi đó, tín ngưỡng dân gian Việt Nam lại có một cái nhìn tổng hợp hơn trong vấn đề này. Theo tác giả Nguyễn Hạnh, với tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam, con người có ba phần: hồn, xác và phách. Cụ thể, người Việt cho rằng con người có ba hồn, bảy vía (với nam) và ba hồn, chín vía (với nữ). Hồn (tinh, khí, thần) và vía dùng thân xác làm nơi trú ngụ. Nếu phần thần và khí của hồn mà rời khỏi thân xác thì người đó chết, nhưng phần tinh anh vẫn còn lưu lại nơi người sống. [10] Chẳng hạn như:
“Kiều rằng: Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách, còn là tinh anh.”
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Chính vì chịu ảnh hưởng của Nho giáo, người Việt cho rằng vong hồn người quá cố vẫn hiện diện kề cận bên người thân.
“Hồn rằng: hồn thác ban ngày,
Thương cha, nhớ mẹ, hồn rày thác đêm.
Hồn rằng hồn thác ban đêm,
Thèm cơm, thèm cháo, hồn đâm thức ngày.”
(Ca dao)
Mặt khác, do ảnh hưởng của Phật giáo, người Việt cho rằng vong hồn của người đã khuất sẽ được đầu thai.
“Em thác bao nắm xương tàn cốt rụi.
Em đầu thai con nhạn bạch về đậu bụi chanh.
Cất tiếng kêu anh đi hỏi vợ,
Đừng chờ đợi em như hồi buổi xuân xanh không còn.”
(Ca dao)
Thêm vào đó, do ảnh hưởng của Đạo giáo, người Việt cho rằng con người có thể tu luyện để hóa thân thành thần tiên, sống đời vĩnh cửu, trường sinh bất lão.
“Trần gian ai tốt ai tài,
Tu nhân tích đức, mai ngày hóa tiên.”
(Ca dao)
“Lên non tìm đạo hóa tiên,
Rũ trần thoát tục sống miền trời cao.”
(Ca dao)
“Người trần tục luyện nên tiên,
Ăn đào trường thọ sống liền muôn năm.”
(Ca dao)
Xét về phương diện thực hành, một trong những nét tín ngưỡng nổi bật của người Việt Nam là tập tục thờ cúng tổ tiên. Tập tục này đã có từ lâu đời, dựa trên cơ sở niềm tin vào sự bất tử của linh hồn sau khi con người đã chết: con người sau khi chết đi sẽ về với tổ tiên nơi chín suối. Tuy ở nơi chín suối nhưng ông bà, cha mẹ vẫn hằng về thăm nom, phù hộ cho con cháu. Do đó, người Việt Nam thường cúng giỗ tổ tiên vào các ngày mùng một hay ngày rằm hàng tháng, và vào các dịp lễ tết hay vào bất kỳ dịp nào trong nhà có việc quan trọng: dựng vợ gả chồng, làm nhà, đi xa, thi cử, v.v, để cầu xin tổ tiên phù hộ, hay báo cáo, tạ ơn tổ tiên.[11]
Bên cạnh việc rất chú trọng chăm nom phần mộ của tổ tiên, người Việt Nam cũng thực hành việc thờ cúng tổ tiên tại bàn thờ đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà và ở từ đường của gia tộc; đồng thời xem đó là không gian thiêng, nơi tổ tiên đi về. Ngoài ra, do quan niệm trần sao, âm vậy nên người Việt cũng chuẩn bị những thức cúng tổ tiên có cả đồ chay, mặn, hương, hoa, quả, rượu, v.v, và cả đồ mặc, nhà ở, đồ dùng cá nhân, phương tiện đi lại, v.v bằng vàng mã.[12]
Hơn nữa, tác giả Nguyễn Đăng Duy còn khẳng định người Việt Nam xem linh hồn ông bà, tổ tiên như những vị thần hộ mệnh, luôn ở cùng, phù hộ và che chở cho con cháu trong cuộc sống thường ngày. Việc chôn theo những đồ tùy táng được tìm thấy trong các ngôi mộ thời nguyên thủy, việc đốt vàng mã trước đây hay việc đốt tiền âm phủ ngày nay của người Việt Nam đều là bằng chứng cho niềm tin rằng ông bà tổ tiên, dù đã chết nhưng vẫn còn sinh hoạt như ở chốn dương gian, vẫn luôn phù hộ, che chở cho con cháu.[13]
Tóm lại, người Việt Nam thường quan niệm về cái chết một cách nhẹ nhàng, thông qua những hình ảnh giản dị nhưng đậm tính triết lý nhân sinh như: một giấc ngủ yên bình, một sự trở về với nguồn cội, một chuyến đi xa hay một hành trình đã hoàn tất. Đồng thời, người Việt cũng tin rằng: sau khi chết, linh hồn con người vẫn còn tồn tại, nhưng thân xác sẽ dần tan biến vào hư vô. Niềm tin này được thể hiện một cách sâu sắc, sinh động và nhất quán qua tập tục thờ cúng tổ tiên cũng như toàn bộ đời sống và văn hóa của người dân Việt Nam.[14]
Trong khi văn hóa Việt Nam không có quan niệm về sự phục sinh của thân xác mà chỉ chú trọng đến sự tồn tại của linh hồn sau cái chết, thần học Kitô giáo lại xác tín vào sự phục sinh toàn vẹn của con người, bao gồm cả thân xác lẫn linh hồn. Nói cách khác, thần học Kitô giáo luôn khẳng định: chính thân xác con người cũng sẽ được phục sinh trong ngày sau hết. Tín điều này được hình thành trên nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền, đồng thời được Huấn Quyền Giáo Hội cùng các nhà thần học diễn giải một cách hệ thống và sâu sắc.
Dựa theo nhận định của cha Paul O’Callaghan, đạo lý về sự phục sinh thân xác không xuất hiện cách minh nhiên ngay từ ban đầu trong Cựu Ước mà được hình thành và phát triển dần dần theo dòng lịch sử mạc khải: từ quan niệm chung về Sheol như nơi trú ngụ tập thể của các linh hồn đến niềm hy vọng rõ nét về sự sống lại của từng cá nhân. Các sách sớm nhất của Cựu Ước cho thấy dân Israel tỏ ra dè dặt trước mọi hình thức liên hệ với người chết, bởi các thực hành này có nguy cơ dẫn đến việc sùng bái ngẫu tượng, đi ngược lại niềm tin độc thần tuyệt đối vào YHWH - Thiên Chúa. Trong bối cảnh ấy, ban đầu, sự bất diệt của con người thường được hiểu như sự tồn tại của các linh hồn trong Sheol (âm phủ), mang tính tập thể; sau đó dần dần tiến tới niềm tin vào sự phục sinh thân xác của cá nhân, mang tính cá vị nơi các sách cuối cùng của Cựu Ước.[17]
1.1.1. Niềm tin vào Thiên Chúa toàn năng và niềm hy vọng sự sống được phục hồi
Bước khởi đầu quan trọng cho sự phát triển của niềm tin này chính là xác tín nền tảng của dân Israel vào quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa trên sự sống và sự chết. Các bản văn Cựu Ước khẳng định rằng Thiên Chúa làm chủ cả cõi sống lẫn cõi chết, cả trời cao lẫn âm phủ (x. 1Sm 2,6; Tv 139,8; Am 9,2).[18]
Từ niềm tin ấy, nơi các Thánh Vịnh và một số sách Khôn Ngoan đã hàm ẩn niềm hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ không bỏ mặc người công chính trong cõi âm ty, nhưng có thể phục hồi sự sống cho họ (x. Tv 16,10; Kn 3, 1-9; 5, 15-16).
Những trình thuật về việc người chết được sống lại nhờ lời cầu nguyện của các ngôn sứ Êlia và Êlisê, cũng như việc Khanốc và Êlia được đưa lên trời, càng củng cố cho niềm tin rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi cái chết. Dù chưa đưa ra một học thuyết rõ ràng về phục sinh, nhưng các bản văn này đã mở ra viễn tượng về khả năng Thiên Chúa phục hồi sự sống thể lý của con người.[19]
Niềm tin hy vọng ấy được thể hiện rõ nhất trong sách Gióp (19,25): “Vì tôi biết rằng Ðấng Cứu Chuộc tôi hằng sống và ngày sau hết tôi sẽ từ bụi đất sống lại, […] và trong xác thịt, tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa của tôi.”[20] Tóm lại, giai đoạn này đã hình thành một quan niệm rõ ràng về việc phục hồi trọn vẹn sự sống thể lý của con người sau khi chết.
1.1.2. Niềm tin vào sự phục sinh mang tính tập thể và cánh chung
Niềm hy vọng phục sinh được đào sâu và mở rộng sang chiều kích dân tộc và cánh chung trong các sách ngôn sứ. Ban đầu, các sấm ngôn nói đến sự phục sinh của Israel như một dân tộc, được hiểu theo nghĩa biểu tượng về việc Thiên Chúa tái lập dân Người sau thời lưu đày và đau khổ (x. Hs 6,2; Ed 37,1-14). Tuy nhiên, trong các bản văn của ngôn sứ Isaia, viễn tượng này dần vượt khỏi phạm vi quốc gia để hướng đến chiến thắng chung cuộc của Thiên Chúa trên sự chết, kèm theo những hình ảnh mang sắc thái cá vị rõ rệt hơn về việc kẻ chết trỗi dậy (x. Is 25,7-8; 26,19). Như thế, lời loan báo của các ngôn sứ đã gieo những hạt giống quan trọng cho niềm tin vào sự phục sinh, dù vẫn còn đan xen giữa biểu tượng tập thể và hy vọng cá nhân.[21]
1.1.3. Sự phục sinh mang tính cá nhân dần được khai mở
Đỉnh cao của tiến trình phát triển của niềm tin này được thể hiện rõ trong các sách cuối cùng của Cựu Ước, đặc biệt là sách Đanien và sách Macabê. Trong bối cảnh Giáo Hội bị bách hại, văn chương khải huyền của Đanien đã công khai tuyên bố niềm tin vào sự phục sinh cá nhân, phân biệt số phận của người công chính và kẻ gian ác sau khi chết (x. Đn 12,1-2). Giáo huấn ấy được sách Macabê khai triển sâu sắc hơn, khi coi sự phục sinh thân xác như phần thưởng Thiên Chúa ban cho những người trung thành với Lề Luật đến mức chấp nhận tử đạo (x. 2Mcb 7).[22] Hơn nữa, sách Macabê còn cho thấy niềm tin vào sự sống lại đã trở nên phổ biến nơi dân Israel. Người em thứ hai và thứ ba trước khi chịu tử đạo đã quả quyết với vua rằng: Thiên Chúa sẽ cho tôi lấy lại phần thân thể này và ban cho tôi sự sống đời đời (x. 2Mcb 7, 7-11). Sau đó, ông Rađit cũng tuyên xưng niềm tin ấy (x. 2Mcb 14,46).[23]
Do đó, có thể nói rằng niềm tin vào sự phục sinh thân xác trong Cựu Ước không xuất hiện đột ngột, nhưng là kết quả của một tiến trình mạc khải tiệm tiến của Thiên Chúa: khởi đi từ niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa nơi các bản văn cổ nhất và đạt tới đỉnh cao nơi các tác phẩm thuộc thời hậu lưu đày.
Điểm khác biệt chính yếu trong niềm tin về sự phục sinh thân xác nơi Tân Ước so với Cựu Ước là sự kiện Chúa Kitô đã sống lại. Việc Người sống lại là bằng chứng cho thấy có sự phục sinh của kẻ chết; và sự phục sinh của chúng ta được liên kết chặt chẽ với sự phục sinh của Người.[24] Trong hành trình rao giảng, Người cũng đã khẳng định rằng tất cả kẻ chết sẽ sống lại. Những lời dạy của Người về sự sống đời sau cũng như chính sự kiện phục sinh của Người đã được các chứng nhân xác nhận và rao giảng, đương nhiên trở thành nền tảng vững chắc nhất và lý do căn bản nhất cho niềm tin nơi Kitô giáo về vấn đề thân xác phục sinh.[25]
Sự tiến triển của giáo lý này trong thời Tân Ước được thể hiện qua ba chuyển dịch nền tảng: (1) Từ lời hứa mơ hồ đến biến cố nền tảng mang tính quyết định; (2) Từ niềm hy vọng tập thể đến mối tương quan cá vị với Đấng Phục Sinh; (3) Từ quan niệm về sự phục hồi của thân xác trần thế đến sự mặc khải về một thân thể hiển vinh được biến đổi.
1.2.1. Từ lời hứa mơ hồ đến biến cố nền tảng mang tính quyết định
Trong Cựu Ước, niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết chỉ xuất hiện cách tiệm tiến, còn mang tính dè dặt, mơ hồ và chưa bao giờ trở thành trung tâm của đức tin. Chính vì thế, vào thời Chúa Giêsu, niềm tin vào sự sống lại vẫn còn gây tranh cãi trong nội bộ Do Thái giáo. Với thái độ bảo thủ và chỉ chấp nhận Ngũ Thư, nhóm Sađốc đã thẳng thừng phủ nhận sự sống lại vì không thấy có nền tảng rõ ràng trong Luật Môsê. Ngược lại, nhóm Pharisêu tin vào sự sống lại, nhưng cách hiểu của họ vẫn còn mang tính suy diễn và chưa được thanh luyện hoàn toàn khỏi những hình dung trần thế.[26]
Sang thời Tân Ước, nơi biến cố Phục Sinh của Chúa Kitô, niềm tin vào sự phục sinh đạt tới một bước ngoặt mang tính quyết định. Kể từ đây, niềm tin này không còn dựa trên một lời hứa mơ hồ về tương lai cánh chung xa vời, nhưng được đặt trên một biến cố lịch sử cụ thể, làm nền tảng cho toàn bộ đức tin Kitô giáo. Chính thánh Phaolô cũng khẳng định rằng sự phục sinh của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào sự phục sinh của Chúa Kitô; đồng thời, ngài cũng đặt niềm tin này vào trung tâm của đức tin Kitô giáo: “Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. […] Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1Cr 15,13-14.20).[27]
Sự kiện Chúa Kitô Phục Sinh đã hiện ra với một số người là một trong những chứng cứ mạnh mẽ nhất về việc Người đã sống lại. Các trình thuật về biến cố Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra được cả bốn sách Tin Mừng nói đến: Người hiện ra với các phụ nữ khi các bà ra thăm mộ Chúa (x. Mt 28,9-10); Người hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau (x. Lc 24,13-55; Mc 16,12-13); Người hiện ra với bà Maria Mácđala (x. Ga 20,11-18; Mc 16, 9-11); Người hiện ra với ông Phêrô (x. Lc 24,34) và Người hiện ra với các Tông Đồ (x. Mt 28,16-20; Mc 16, 14-18; Lc 24,36-53; Ga 20,19-29).[28]
Niềm tin của Giáo Hội sơ khai vào việc Chúa Kitô đã phục sinh còn được dựa trên biến cố ngôi mộ trống. Cả bốn sách Tin Mừng (Mc 16,1-8; Lc 24,1-12; Mt 28,1-8; Ga 20,1-10) đều thuật lại biến cố các phụ nữ đi viếng mộ Chúa Giêsu; họ thấy ngôi mộ đã mở ra và trống rỗng. Ngôi mộ trống được nối kết với những trình thuật về việc an táng Chúa Giêsu. Mặc dù theo tục lệ Rôma, thi thể người chịu đóng đinh thường được giữ trên cây thập tự để bị tan rữa cách tự nhiên hoặc bị thú vật xâu xé; nhưng chính quyền Rôma, vì lưu ý đến tâm thức của người Do Thái vốn tôn trọng tử thi (x. Đnl 21,22-23) nên cho phép an táng lập tức những người Do Thái chịu đóng đinh. Vì thế, những gì Tin Mừng mô tả đều phù hợp với tục lệ Rôma và Do Thái liên quan đến những việc làm cuối cùng đối với thi hài của một người Do Thái chịu đóng đinh.[29]
Như vậy, điểm nhấn đã chuyển dịch từ lời tiên báo trong Cựu Ước sang lời tuyên xưng về một sự kiện đã xảy ra trong Tân Ước.
1.2.2. Từ niềm hy vọng tập thể đến mối tương quan cá vị với Đấng Phục Sinh
Một tiến triển quan trọng khác của Tân Ước trong giáo lý phục sinh là sự chuyển dịch từ viễn tượng tập thể và cánh chung sang chiều kích cá vị và tương quan. Trong Cựu Ước, ngay cả những đoạn văn tiên báo rõ ràng nhất về sự sống lại cũng thường đặt nó trong một viễn tượng cánh chung và tập thể. Sự phục sinh cá nhân chỉ được nhắc đến như một phần của việc dân tộc Israel được cứu độ hay bị phán xét; như một phương thức để Thiên Chúa thực thi công lý tối hậu: người lành được thưởng, kẻ dữ bị phạt (x. Đn 12,2). Trọng tâm của sự phục sinh nằm ở hành động của Thiên Chúa trong lịch sử, hơn là mối tương quan giữa từng cá nhân với Người trong cái chết và sự phục sinh.[30]
Sang thời Tân Ước, niềm tin phục sinh đã được cá nhân hóa trong mối tương quan thân tình với Đấng Phục Sinh. Chúa Giêsu không chỉ tuyên bố có sự sống lại, mà Người còn khẳng định chính Người là nguồn mạch và khuôn mẫu cho sự sống lại ấy. Người đã cho thấy sự sống lại không còn là một biến cố xa vời mà trở thành một thực tại hiện tại, gắn liền với chính con người và sứ vụ của Người. Niềm tin vào Người sẽ giúp mỗi cá nhân được tham dự vào tình yêu và đời sống thần linh của Thiên Chúa (x. Ga 5,24; 11, 25-26).[31]
Thánh Phaolô đã khai triển và hệ thống lại tư tưởng thần học này một cách sâu sắc. Đối với ngài, sự phục sinh của người tín hữu không phải là một sự kiện độc lập, riêng rẽ, mà là hệ quả tất yếu và không thể tách rời của việc được kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô. Qua Bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu được chia sẻ vào đau khổ và cái chết của Chúa Kitô để cùng được phục sinh với Người (x. Rm 6,3-5). Theo đó, thánh nhân cho thấy phục sinh là một tiến trình đã được khởi đầu ngay trong đời sống đức tin hiện tại. Trọng tâm của tư tưởng này là hình ảnh hoa quả đầu mùa mà ngài đã dùng cho Chúa Kitô (x. 1Cr 15:20, 23): Người là hoa quả đầu mùa, là nguyên mẫu và là sự đảm bảo chắc chắn cho toàn bộ vụ mùa là tất cả những ai thuộc về Người.[32]
Như thế, sự phục sinh trong Tân Ước vừa mang tính cá vị, lại vừa mang một chiều kích hiệp thông sâu sắc. Đó là sự thông dự vào chính sự sống và vinh quang của Đấng Phục Sinh; đồng thời cũng là kết quả của một giao ước mới, một mối quan hệ cá vị giữa mỗi tín hữu với Người.
1.2.3. Từ quan niệm về sự phục hồi của thân xác trần thế đến sự mặc khải về một thân thể hiển vinh được biến đổi
Sự tiến triển của giáo lý phục sinh trong thời Tân Ước còn được thể hiện rõ nét nơi cách hiểu về bản chất của thân xác phục sinh. Dù tin có sự sống lại, quan niệm của dân Do Thái thời Cựu Ước cũng như nhóm Pharisêu vào thời Chúa Giêsu vẫn còn mang màu sắc trần thế và duy vật. Họ xem đời sống mai sau chỉ như sự nối dài đơn thuần của đời sống hiện tại với đầy đủ các nhu cầu thể lý, các mối quan hệ xã hội và những giới hạn vật chất. Với họ, sự phục sinh cũng chỉ giống như việc Lazarô được gọi ra khỏi mồ (x. Ga 11); đó là một phép lạ vĩ đại, nhưng vẫn là sự trở lại với thân xác dễ hư nát và bất toàn. Câu hỏi đầy tính mỉa mai của nhóm Sađốc về người đàn bà có bảy đời chồng (x. Lc 20, 28-33) cũng đã phản ánh rõ cách hiểu này.[33]
Chính trong bối cảnh ấy, Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta một viễn tượng hoàn toàn mới. Qua việc trả lời cho vấn nạn mà nhóm Sađốc đặt ra (x. Lc 20, 28-33), cũng như qua chính những lần hiện ra sau khi phục sinh (x. Ga 20, 26; Lc 24, 30 - 31), Người đã khai mở cho chúng ta về một tình trạng hoàn toàn mới của thân xác nơi cuộc sống mai sau: chẳng lấy vợ lấy chồng, giống như các thiên thần, vượt trên các quy luật vật lý, v.v. Người không phủ nhận thân xác, nhưng giải phóng nó khỏi những ràng buộc thuần túy mang tính sinh học và xã hội.[34]
Thánh Phaolô đã triển khai chân lý này thành một giáo lý sâu sắc (x. 1Cr 15). Trong đó, ngài đã chỉ ra sự đối lập giữa thân thể xác phàm: dễ hư nát, yếu đuối, ô nhục với thân thể có thần khí: sinh động, bất diệt, vinh quang (x. 1Cr 15, 42 - 44). Ngài không phủ nhận tính vật chất nơi thân xác phục sinh, nhưng nhấn mạnh đến sự biến đổi của nó. Sự biến đổi này được ngài so sánh với hình ảnh hạt lúa được gieo xuống đất và cây lúa mọc lên; nơi đó có sự liên tục về căn tính, nhưng cũng có sự khác biệt lớn về hình thức và phẩm chất (x. 1Cr 15, 36 - 38). Như thế, điểm quan trọng ở đây là tính liên tục trong sự biến đổi nơi thân xác phục sinh: Thân xác phục sinh vẫn là thân xác của chính con người ấy, vẫn giữ nguyên căn tính và lịch sử riêng của họ, nhưng thân xác ấy cũng đã được Thần Khí thấm nhập và làm cho sống động, vượt thắng khỏi sự hư nát, yếu đuối và cái chết.[35]
Tóm lại, vào thời Tân Ước, niềm tin về thân xác phục sinh đã có những tiến triển mang tính quyết định: Chính Đức Giêsu Kitô Phục Sinh vừa là trung tâm, vừa là khuôn mẫu cho toàn bộ niềm tin ấy. Nơi Người, niềm hy vọng mong manh của con người được biến thành xác tín vững chắc; nơi Người, thân phận hữu hạn của con người được mở ra cho sự sống vĩnh cửu; và nơi Người, toàn thể nhân loại được mời gọi bước vào một tình trạng hiện hữu mới, nơi không còn cảnh hư nát, đau khổ và tội lỗi.
Tín điều thân xác phục sinh không chỉ được xây dựng trên nền tảng Thánh Kinh, mà còn được củng cố và khai triển trong Thánh Truyền. Nền tảng Thánh Truyền của tín điều này được thể hiện rõ qua phụng vụ và đời sống của Giáo Hội sơ khai; qua tư tưởng của các Giáo Phụ; cũng như qua Huấn Quyền của Giáo Hội.
2.1. Sự phục sinh của Chúa Kitô là nền tảng cho sự phục sinh của nhân loại
Sự phục sinh của Chúa Kitô là chân lý trung tâm và đỉnh cao của đức tin Kitô giáo. Chân lý này đã được các Tông Đồ rao giảng ngay từ thời Hội thánh sơ khai như yếu tố chính yếu của niềm tin Kitô giáo (x. 1Cr 15, 3-8; Cv 2, 22-40; 3, 12-16; 4, 8-12; 5, 29-32; 8, 30-35; 10, 34-43; 13, 15-41). Thánh Phaolô cũng đã nhấn mạnh chân lý này: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15, 14).
Hơn nữa, các Tông Đồ cũng luôn rao giảng rằng sự phục sinh của Chúa Kitô gắn liền với sự phục sinh của thân xác con người; và Chúa Kitô phục sinh chính là hoa quả đầu mùa dẫn đến sự sống lại của tất cả mọi người: “Nhưng nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Kitô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không trỗi dậy. […] Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1Cr 15, 12-20). Cũng trong mạch tư tưởng này, thánh Phaolô giải thích thêm về việc Chúa Kitô chính là niềm hy vọng cho sự phục sinh của con người: “Như mọi người vì Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ Đức Kitô cũng được sống lại” (1Cr 15,22).[36]
Các Giáo Phụ cũng khẳng định chân lý này, đặc biệt là hai Giáo Phụ: Tertullianô và Athanasiô. Tertullianô khẳng định quyền năng của Thiên Chúa có thể làm cho thân xác con người được phục sinh, và sự phục sinh của Chúa Kitô chính là bảo chứng chắc chắn cho sự phục sinh của toàn thể nhân loại.[37] Thánh Athanasiô cũng dạy rằng Chúa Kitô là sự đảm bảo cho sự phục sinh của chúng ta; vì Người đã mặc lấy thân xác con người nên thân xác ấy sẽ được cứu chuộc và sống lại.[38]
Thêm vào đó, nơi Công thức Files Damasi, Công đồng Tôlêđô XI, cũng như Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Huấn Quyền Giáo Hội cũng đã xác nhận chân lý này khi nhấn mạnh Chúa Kitô Phục Sinh như khuôn mẫu và bảo chứng cho sự phục sinh của thân xác con người. Chúng ta được phục sinh nhờ Máu Thánh của Người, và sự phục sinh của chúng ta được gắn kết nội tại với sự phục sinh của Người.[39]
2.2. Niềm tin vào sự phục sinh thân xác là nền tảng của đời sống Kitô giáo
Ngày từ thời Giáo Hội sơ khai, niềm tin vào sự phục sinh của thân xác luôn được xem là nền tảng của đời sống đức tin. Tác phẩm Điđachê (Giáo huấn của các Tông Đồ) đã xem sự sống lại của thân xác con người như một trong ba dấu hiệu của chân lý sẽ diễn ra vào ngày Chúa Kitô quang lâm. Đây chính là chứng từ Thánh Truyền quan trọng và lâu đời nhất, cho thấy niềm tin vào sự phục sinh thân xác đã hiện diện trong đời sống đức tin của Hội Thánh tiên khởi.[40]
Bên cạnh đó, các tín biểu trong thời kỳ đầu của Giáo Hội đều tuyên xưng chân lý này như một yếu tố thiết yếu của đức tin: Trong Kinh Tin Kính của các Tông Đồ, Giáo Hội tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Trong Kinh Tin Kính của Công đồng Nicêa-Constantinôpôli, Giáo Hội long trọng tuyên bố: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Một công thức ngắn trong phụng vụ bên Ai cập (thế kỷ IV) khẳng định rằng: “Tôi tin Thiên Chúa Cha toàn năng, và Con Một Người sinh ra, Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, và Thánh Thần, và sự sống lại của xác phàm trong Hội thánh Công giáo.”[41] Việc đặt các công thức này ở phần sau cùng của các tín biểu nhằm diễn tả chân lý thân xác phục sinh và sự sống đời đời như là sự hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa khởi đầu từ cuộc tạo dựng.[42]
Không chỉ dừng lại nơi các tín biểu, đạo lý về sự phục sinh thân xác cũng là một chủ đề căn bản trong chương trình huấn giáo cho những ai muốn gia nhập Kitô giáo (x. Dt 6, 1-2). Niềm tin này không chỉ được tuyên xưng bằng lời nói, mà còn được biểu hiện cụ thể trong đời sống phụng vụ và trong cách Giáo Hội sơ khai chôn cất thân xác con người sau khi qua đời. Việc các tín hữu tôn kính và chôn cất thi hài (đặc biệt là thi hài các vị tử đạo) trong các hầm mộ (các hang toại đạo) chính là minh chứng sống động cho niềm tin rằng thân xác con người sẽ được phục sinh. Đồng thời, các hang toại đạo dần trở thành địa điểm cử hành Thánh lễ, cầu nguyện và tưởng nhớ, biểu lộ một niềm hy vọng sâu xa vào sự sống lại trong Chúa Kitô.[43]
Các Giáo Phụ đã viết nhiều tác phẩm về đề tài sự phục sinh của thân xác để trả lời cho những người chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp vốn khinh chê thân xác và cũng để củng cố đức tin cho những tín hữu còn nghi nan. Các ngài luôn khẳng định sự phục sinh của thân xác là điều khả dĩ; đồng thời, xem đây là chân lý nền tảng của niềm tin Kitô giáo.
Ngay từ thế kỷ II, thánh Pôlycapô đã cảnh báo rằng những ai chối bỏ niềm tin vào sự sống lại thì đang đi ngược với chân lý Kitô giáo.[44] Còn thánh Irênê thành Lyon đã dùng đến lý chứng cứu độ để khẳng định mầu nhiệm Nhập Thể là nền tảng cho sự phục sinh thân xác.[45]
Vào thế kỷ III, Tertullianô khẳng định rằng niềm hy vọng và yếu tố làm nên căn tính của người Kitô hữu là sự phục sinh thân xác.[46] Bên cạnh đó, Ôrigen cũng xem đây là tín điều nền tảng của Kitô giáo. Theo ông, thân xác phải được phục sinh vì Thiên Chúa sẽ thưởng phạt con người trong chính thân xác mà họ đã hành động.[47]
Bước sáng thế kỷ IV-V, thánh Athanasiô lập luận rằng vì Chúa Kitô đã mặc lấy thân xác nên thân xác con người cũng sẽ được cứu chuộc và sống lại.[48] Trong khi đó, thánh Gioan Kim Khẩu nhấn mạnh rằng thân xác con người chắc chắn sẽ sống lại, vì đây là giáo huấn minh nhiên của thánh Phaolô và là nền tảng của niềm tin Kitô giáo.[49]
Cuối cùng, trong De Civitate Dei, thánh Augustinô khẳng định rằng sự phục sinh là sự sống lại của con người toàn vẹn và đó là hành động của Thiên Chúa để hoàn tất công trình sáng tạo của Người.[50]
Theo dòng lịch sử, Huấn Quyền Giáo Hội cũng đã nhiều lần xác nhận chân lý này. Từ các công đồng Tôlêđô XI (năm 675), công đồng Latêranô IV (1215), công đồng Lyon II (1274), đến Hiến chế Benedictus Deus (1336), rồi đến công đồng Trentô (1545-1563) và Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo (1992) đều khẳng định rằng: trong ngày sau hết, Thiên Chúa sẽ cho con người sống lại với thân xác hiện có; và tín điều này là một chân lý nền tảng của đức tin Kitô giáo.[51]
Tóm lại, Truyền Thống của Giáo Hội từ thời các Tông Đồ cho đến thời hiện đại đều xác tín rằng sự phục sinh của Chúa Kitô chính là nền tảng cho sự phục sinh của con người; đồng thời, đặt tín điều thân xác phục sinh ở vị trí cốt lõi trong đức tin Kitô giáo. Qua những giáo huấn mang tính liên tục của các Tông Đồ, các Giáo Phụ, các công đồng, các Đức giáo hoàng và nơi các sách Giáo lý, Giáo Hội luôn khẳng định rằng ơn cứu độ không loại trừ thân xác, nhưng bao trùm toàn thể con người. Niềm tin vào sự phục sinh thân xác không chỉ mang tính lý thuyết, nhưng là nền tảng của niềm hy vọng Kitô giáo, dựa trên chính sự phục sinh của Chúa Kitô và hướng toàn thể nhân loại tới sự sống vĩnh cửu trong Thiên Chúa.
3.1. Phục sinh là sự tái tạo con người toàn thể
Để hiểu đúng về mầu nhiệm Phục sinh, trước hết chúng ta cần làm sáng tỏ các khái niệm then chốt trong vấn đề này. Theo tác giả Nguyễn Hai Tính: “Phục sinh là biến cố Chúa Giêsu được đưa vào trong cõi vinh quang, tốt lành và hoàn hảo của Thiên Chúa với tất cả các chiều kích nhân loại, trần thế và lịch sử của Người, điều chưa hề xảy ra với bất kỳ ai hay bất kỳ điều gì khác.”[52]
Trong khi đó, Đức Joseph Ratzinger lại có cái nhìn sâu sắc khi suy tư về đề tài thân xác phục sinh. Ngài khẳng định rằng nói sự phục sinh của thân thể hay sự phục sinh của thân xác là đúng, còn nói sự phục sinh của thân xác vật lý là sai. Bởi vì trong ngôn ngữ của thánh Phaolô, thân xác và tinh thần không đối nghịch với nhau; sự đối nghịch thực sự nằm giữa thân xác xác thịt và thân xác sống theo Thần Khí. Do đó, ngài nhấn mạnh rằng phục sinh không phải là sự trở lại của thân xác vật lý hay sinh học, mà là sự phục sinh của con người toàn thể dưới một hình thức mới, như thân thể phục sinh của Chúa Kitô Phục Sinh. Nói cách khác, phục sinh là sự tái tạo con người toàn thể.[53]
Quan điểm này được dựa trên nền tảng Kinh Thánh qua hai câu quan trọng: "Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì." (Ga 6,63); và "Xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa" (1Cr 15,50). Cả thánh Gioan và thánh Phaolô đều muốn nhấn mạnh rằng hiện thực Kitô giáo không phải là thứ hiện thực vật chất tự nhiên, gần như thuộc vật lý, mà là hiện thực theo nghĩa siêu-vật lý của Thần Khí.[54]
Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần xem xét một từ ngữ bí ẩn trong tiếng Hy Lạp là Soma. Từ này vừa có nghĩa là thân xác, vừa có nghĩa là bản ngã. Soma có thể là Sarx (thân xác trần thế chịu sự chi phối của các định luật lý hóa), nhưng cũng có thể là Pneuma (Tinh Thần).[55] Như thế, chúng ta có thể hiểu: Soma diễn tả chính con người - cái Tôi đang hiện diện trong một thân xác cụ thể, vật lý, nhưng cũng có thể xuất hiện cách mới mẻ như một thực tại siêu-vật lý. Tóm lại, cả thánh Gioan và thánh Phaolô đều nhấn mạnh rằng sự sống lại của thân xác chính là sự sống lại của con người (xác phàm), chứ không phải chỉ là sự hồi sinh của cơ thể.[56]
Bên cạnh đó, nhà thần học Bernard Sesboüé cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khái niệm thân xác. Theo ông, thân xác là nơi chốn cụ thể và thống nhất của đời sống con người trong không gian và thời gian: Hiện hữu trong không gian, thân xác giúp chúng ta đón nhận và sống cuộc đời của riêng mình, sử dụng tự do của mình trong tương quan với bản thân, với tha nhân, với thế giới và với Thiên Chúa; Hiện hữu trong thời gian, thân xác trở nên một lịch sử, chứa đựng mọi biến cố mà chúng ta đã trải qua trong cuộc sống. Chính vì thế, thân xác không thể bị giản lược vào các yếu tố lý hóa hay sinh học; đúng hơn, nó phải được hiểu là một trạng thái tương hệ. Bởi điều làm nên bản sắc của thân xác tôi không phải là tình trạng vật chất, mà chính là vai trò tương quan của nó với thế giới.[57]
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng phục sinh không đơn thuần là sự tái hợp của thân xác với linh hồn theo kiểu vật lý, mà là một cuộc tái tạo con người toàn thể, trong một trạng thái mới, siêu-vật lý và vĩnh cửu trong Thiên Chúa.
3.2. Thân xác phục sinh vừa đồng nhất, vừa được biến đổi
Trong thực tế, để tìm được lời giải thích thỏa đáng cho niềm tin về thân xác phục sinh không phải là chuyện dễ dàng, như Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo đã khẳng định: “Thân xác con người phục sinh như thế nào là điều vượt quá sức tưởng tượng và hiểu biết của chúng ta. Chúng ta chỉ hiểu được trong đức tin.”[58] Dù vậy, dựa vào lời thánh Phaolô đã nói trong thư gửi tín hữu Philipphê (x. Pl 3,31), Giáo Hội đã khẳng định khi sống lại, thân xác của chúng ta sẽ được biến đổi theo khuôn mẫu thân xác của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh.
Nhiều tác giả chỉ ra rằng thân xác Chúa Kitô Phục Sinh tuy vẫn là thân xác đã bị đóng đinh và giết chết, vẫn mang những dấu đinh, những vết thương, nhưng nay lại trở nên sáng láng vinh quang và thanh thoát, không còn bị lệ thuộc vào không gian và thời gian nữa. Người có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào vào bất cứ khi nào, dù cửa đang được đóng kín. Người vẫn là Người, vẫn giữ nguyên căn tính của Người là Giêsu thành Nazaret, nhưng lại tỏ ra đã được biến đổi hoàn toàn. Thân xác của Người không còn thuần túy như trước kia, nên ngay cả các môn đệ thân tín cũng không dễ nhận ra Người khi Người hiện đến với họ.[59]
Vì thế, có thể kết luận rằng thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vừa mang tính đồng nhất nhưng cũng vừa được biến đổi; và thân xác phục sinh của chúng ta cũng mang những đặc tính ấy.
3.2.1. Tính đồng nhất nơi thân xác phục sinh
Về vấn đề này, cha Nguyễn Hữu Thy đã nhận định rằng một điều hiển nhiên là thân xác của Chúa Giêsu sau khi sống lại từ cõi chết là một thực thể mà các nhân chứng xưa kia đã có thể trông thấy, nhận ra và đụng chạm tới được; nghĩa là thân xác phục sinh và thân xác khi còn sống ở trần gian của Người vẫn là một. Điều này đã được thể hiện rõ nét trong Tin Mừng: những lời Chúa Kitô Phục Sinh đã nói với các môn đệ (x. Lc 24, 38-43; Ga 20,27); bà Maria Mađalêna đã nhận ra Người qua giọng nói quen thuộc (x. Lc 24, 30-35); hai môn đệ đã nhận ra Người trên đường Emmau (x. Lc 24, 13 - 35), v.v. Sau này, khi đi rao giảng, các Tông Đồ cũng thường kể lại là các ngài đã từng ăn uống với Chúa Kitô Phục Sinh (x. Cv 10, 40-41).[60]
Những tường thuật trên chứng tỏ rằng Chúa Giêsu đã sống lại thật và vẫn sống mãi với chính thân xác của Người, thân xác mà Đức Maria đã cưu mang và sinh hạ trong máng cỏ Bêlem; thân xác mà các chứng nhân đã chạm tới khi sống chung với Người trong suốt ba năm; thân xác đã bị đóng đinh trên Thập Giá, bị lưỡi đòng đâm thâu; và đó cũng chính là thân xác mà các môn đệ đã gặp lại, đã đụng chạm sau khi Người sống lại từ cõi chết.[61] Tương tự như thế, thân xác đã chết và thân xác sống lại của chúng ta vẫn là một.
Chính thánh Phaolô đã nhấn mạnh thân xác phục sinh sẽ được biến đổi nhưng vẫn là thân xác mà các kitô hữu đang có ở đời này (x. 1Cr 15,42-44.51-53; Pl 3,20-21; Rm 8,11.23). Bên cạnh đó, các Giáo Phụ: Ôrigen, Grêgôriô Nyssa, Gioan Kim Khẩu, Augustinô đều khẳng định về tính liên tục trong bản thể giữa thân xác phục sinh và thân xác nơi trần thế của người tín hữu.[62]
Trong một tài liệu gần đây, Uỷ ban Thần học Quốc tế cũng khẳng định về sự đồng nhất này. Theo đó, nếu Thiên Chúa cho con người phục sinh với một thân xác hoàn toàn mới và không có sự đồng nhất về hiện hữu với thân xác cũ, thì con người thứ hai không thể chính là con người thứ nhất được.[63] Tóm lại, thật khó mà giải thích cách rõ ràng về sự đồng nhất này; nhưng thực tế cho thấy thân xác con người đang sống cũng luôn đổi thay về vật chất (quá trình trao đổi chất nơi cơ thể diễn ra trong vòng một vài năm, trong đó các nguyên tố vật lý và hóa học trong cơ thể người được thay thế hết), mà vẫn giữ được tính đồng nhất: vẫn là một cái tôi, có cùng những tập quán, cử chỉ, đặc tính v.v. Vì thế, sự đồng nhất không thuộc về vật chất hay các yếu tố thể chất, nhưng đặc biệt dựa vào sự tồn tại của cái tôi duy nhất và hoạt động cứu độ duy nhất của Thiên Chúa.[64]
3.2.2. Tính mới mẻ nơi thân xác phục sinh
Tuy có sự đồng nhất giữa thân xác đã sống trên trần gian và thân xác phục sinh, nhưng theo cha Raniero Cantalamessa, chắc chắn thân xác của Chúa Phục Sinh đã được biến đổi. Theo ngài, những lần Chúa hiện ra đã cho thấy một chiều kích mới mẻ nơi thân xác phục sinh của Người. Thực tế cho thấy, Người không còn bị chi phối bởi các quy luật vật lý, có thể ra vào khi các cửa còn đóng kín hay hiện đến rồi biến đi nhanh chóng (x. Ga 20, 26; Lc 24, 30-31); đồng thời, chỉ những ai được Người tỏ mình ra mới có thể nhận ra Người mà thôi.[65] Vì thế, có thể khẳng định rằng thân xác phục sinh của chúng ta cũng sẽ được biến đổi: trở nên vinh hiển, thanh thoát, không còn vết tích của sự dữ, không còn bị hư hoại, không còn lệ thuộc vào thời gian và không gian, v.v.
Tư tưởng này cũng được đặt nền tảng trên Thánh Kinh và Thánh Truyền. Thánh Phaolô cũng đã khẳng định thân xác chúng ta sẽ được biến đổi để trở nên vinh hiển và bất diệt (x. 1Cr 15,51-53). Các Giáo Phụ Ôrigen, Grêgôriô Nyssa, Gioan Kim Khẩu, Augustinô đều khẳng định rằng dù vẫn mang những đặc điểm liên hệ với thân xác nơi trần thế, nhưng thân xác phục sinh chắc chắn sẽ được biến đổi hoàn toàn để trở nên tinh tuyền, vinh hiển, phù hợp với đời sống thần linh.[66]
Khi suy tư về đặc tính vừa đồng nhất, vừa được biến đổi này nơi thân xác phục sinh, cha Phạm Văn Huỳnh nhận ra rằng thánh Phaolô đã dùng hình ảnh về hạt lúa được gieo xuống và cây lúa mọc lên như một ẩn dụ về thực tại này. Theo đó, hạt lúa phải thối rữa đi mới hình thành ra cây lúa; tuy hình thể của hạt giống và cây lúa khác nhau, và dĩ nhiên đã có sự thay đổi về các thuộc tính giữa hạt giống và cây lúa, nhưng nó vẫn là lúa. Cũng thế, điều quan trọng nơi thân xác phục sinh là bản thể chứ không phải hình thể; hình thức sống xưa phải mất đi để hình thức sống mới xuất hiện, hình thể có thể thay đổi nhưng bản thể vẫn được bảo toàn. Theo thánh nhân, thân xác phục sinh vẫn mang lấy nhân tính, nhưng thân xác ấy đã được biến đổi vinh hiển, không còn nằm trên bình diện tự nhiên, không còn phụ thuộc vào các quy luật sinh hoá, vì “gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,44).[67]
Theo chiều hướng ấy, cha Bernard Sesboüé đã đưa ra những kinh nghiệm cụ thể trong đời sống thường ngày nhằm giúp chúng ta hiểu được phần nào về thân thể thần thiêng. Đó có thể là những phút giây đặc biệt trong cuộc đời, những khoảnh khắc ân sủng mà thân xác chúng ta dường như hoàn toàn trở nên thần thiêng nhờ sự phong phú của kinh nghiệm mà thân xác đã trải nghiệm. Đó là kinh nghiệm thần bí về Thiên Chúa nơi các vị thánh; là kinh nghiệm về những khoảnh khắc mãnh liệt nhất của tình yêu; là kinh nghiệm về nghệ thuật và cái đẹp khơi dậy niềm vui sống lạ thường; là kinh nghiệm về sự chiến thắng trên vật chất như sự nhanh nhẹn thanh thoát của một vũ điệu, sự điêu luyện của một nghệ sĩ dương cầm đang hòa quyện âm nhạc với thân xác của mình, hay màn trình diễn xuất sắc của một vận động viên thể thao, v.v.[68]
Tóm lại, chúng ta chỉ có thể khẳng định cách chắc chắn chân lý về sự phục sinh của thân xác, còn việc diễn tả chi tiết về mầu nhiệm ấy vẫn vượt quá khả năng của lý trí nhân loại; như thần học gia Pierre Bougie khẳng định: sự tưởng tượng của con người sẽ không bao giờ diễn tả hết được sự phong phú của thân xác phục sinh đã được hứa ban cho chúng ta, cũng như những chi tiết về sự sống mai sau của chúng ta. Chỉ trong ánh sáng của đức tin, chúng ta mới có thể nắm bắt một cách gián tiếp và phần nào đó về mầu nhiệm cứu độ này. [69] Bên cạnh đó, cha Yves-Marie Blanchard cũng giải thích thêm rằng khó khăn của vấn đề này nằm ở chỗ con người chúng ta thường không có khả năng quan niệm một cái gì đó khác với cách thế mà chúng ta đang hiện hữu trong lịch sử. Chúng ta thường có nguy cơ vật thể hóa từ ngữ thân xác, giản lược nó thành một thân xác sinh học hoặc tinh thần hóa sự phục sinh, đến độ chỉ còn thấy ở đó một phần sự sống của con người chúng ta nơi thế giới bên kia.[70]
3.3. Thân xác con người sẽ phục sinh cùng toàn thể vũ trụ
Trong Cựu Ước, sau khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã cho họ làm chủ muôn loài và cả vũ trụ. Việc con người sa ngã cũng ảnh hưởng đến muôn loài (x. St 3,17; St 7) và lời hứa cứu độ của Thiên Chúa cũng bao gồm cả muôn loài muôn vật (x. St 9). Tình liên đới giữa con người và vũ trụ đã trở thành đề tài quen thuộc của các ngôn sứ loan báo thời cánh chung. Cũng như tội lỗi của con người đã làm ô uế vũ trụ và kéo theo cơn thịnh nộ của Thiên Chúa thế nào, thì ơn cứu độ mà Thiên Chúa dành cho con người cũng ảnh hưởng đến vạn vật như vật (x. Ed 36, 1-15; Is 11, 6-9; 30, 23-26; 35, 1-7; Am 9,13).
Các tác giả Tân Ước không chỉ khai thác đề tài canh tân vũ trụ theo tư tưởng của các ngôn sứ thời Cựu Ước, mà còn giải thích ý nghĩa của nó trong bối cảnh của lịch sử cứu độ. Đặc biệt, thánh Phaolô đã nêu bật sự liên kết giữa công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc nơi Chúa Kitô (x 1Cr 8,6; Cl 1, 16-17; Dt 1, 2-3), qua đó khẳng định rằng ơn cứu độ mang chiều kích vũ trụ. Tư tưởng này được triển khai cách rõ nét trong Rm 8,19-21:
Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang.
Ở đây, thánh nhân đã kéo dài ơn cứu độ từ con người sang toàn thể thụ tạo. Theo ngài, thân xác con người là thành phần của thế giới vật chất; vì thế, khi nó được cứu chuộc thì cả thế giới cũng sẽ được cứu chuộc. Mặt khác, khi được phục sinh, thân xác con người sẽ được đổi mới, vì thế, nó cũng đòi hỏi một môi trường được đổi mới để phù hợp với điều kiện mới.[71]
Trong chiều hướng ấy, Đức Joseph Ratzinger nhấn mạnh rằng cùng đích của người Kitô hữu không phải là ơn cứu độ mang tính cá nhân thuần túy, nhưng là sự viên mãn của toàn thể tạo thành. Đức tin vào Chúa Kitô cũng chính là niềm tin vào tương lai của thế giới. Theo viễn tượng Kinh Thánh, con người và vũ trụ không phải là hai thực tại tách biệt, nhưng gắn bó nội tại với nhau đến mức không thể quan niệm con người ngoài thế giới hay thế giới không có con người. Do đó, sứ điệp về ngày Quang Lâm trình bày cho chúng ta một cái nhìn toàn diện, trong đó vũ trụ học và nhân học được quy hướng và thống nhất trong Kitô học cánh chung.[72]
Dưới cái nhìn hiện sinh, cả Công Đồng Vaticanô II cũng như Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo đều khẳng định vào ngày Chúa Kitô quang lâm, vũ trụ sẽ được biến đổi cách toàn diện: nhân loại và toàn thể vũ trụ sẽ được giải thoát khỏi tình trạng hư nát để bước vào một đời sống viên mãn. Hơn nữa, công cuộc canh tân cánh chung này sẽ không hủy bỏ giá trị của thế giới hiện tại; trái lại, những nỗ lực chân thật của con người nhằm thăng tiến văn hóa, công lý và bác ái sẽ được Thiên Chúa thanh luyện và đưa vào vương quốc vĩnh cửu của Người.[73]
Có lẽ bởi vì trong văn hóa Việt Nam không có ý niệm về sự phục sinh của thân xác mà chỉ có sự sống của linh hồn sau khi chết, nên một phần không nhỏ giới trẻ Việt Nam hiện nay thường có khuynh hướng xem thường thân thể. Hệ quả là họ dễ rơi vào lối sống dửng dưng, khép kín, thiếu nghị lực, hoặc chạy theo chủ nghĩa hưởng thụ và ích kỷ. Những khuynh hướng này không chỉ làm phai nhạt ý nghĩa đích thực của cuộc sống, mà còn khiến họ lãng quên trách nhiệm đối với bản thân, với tha nhân và với xã hội.
Tuổi trẻ là giai đoạn then chốt trong quá trình phát triển thể chất, đóng vai trò quyết định đến sức khỏe của con người. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy giới trẻ Việt Nam đang có xu hướng xem nhẹ việc chăm sóc thân thể. Điều đó được thể hiện qua lối sống của họ: thiếu vận động và thường xuyên sử dụng các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá và ma túy, v.v.
Cụ thể, một báo cáo gần đây cho thấy, có chưa đến 20% người trẻ Việt Nam đạt được khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới về vận động thể lực, cụ thể là 60 phút/ngày vận động ở cường độ vừa đến mạnh và tối thiểu 5 ngày/tuần.[74] Đồng thời, theo thống kê của Bộ Y tế Việt Nam, tố chất về thể lực, sức bền và sức mạnh của thanh niên Việt Nam bị xếp vào mức kém so với tiêu chuẩn, mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu thói quen rèn luyện thể chất.[75]
Không chỉ dừng lại ở vấn đề lười vận động, việc sử dụng rượu bia và các chất kích thích khác trong giới trẻ cũng đang gia tăng ở mức đáng báo động. Theo thông tin từ Đài Truyền Hình Việt Nam, Việt Nam thuộc nhóm có mức tiêu thụ rượu bia bình quân đầu người cao tại khu vực. Đáng lưu ý hơn, tỷ lệ sử dụng rượu bia của giới trẻ đang gia tăng cách báo động trong những năm gần đây.[76]
Một khảo sát trên giới trẻ cho thấy có đến 21,3% người được hỏi đang có nguy cơ nghiện rượu bia; 20% bị nghiện rượu bia ở mức độ nhẹ; 16% nghiện ở mức độ vừa phải; 4,6% đã rơi vào tình trạng nghiện rượu bia ở mức độ nặng. Về tần suất sử dụng, khoảng 60% trong số họ đã sử dụng rượu bia trên 48 tháng và có đến 25,5% người uống rượu bia nhiều hơn 3 lần/tuần.[77]
Bên cạnh đó, Bộ Y tế Việt Nam cho biết, tỷ lệ người trẻ Việt Nam sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đang tăng nhanh cách báo động. Đặc biệt, tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử của nhóm học sinh từ 13 - 17 tuổi tăng từ 2,6% (năm 2019) lên 8,1% (năm 2023). Ở nhóm 13 - 15 tuổi, tỷ lệ đã tăng hơn gấp đôi từ 3,5% (năm 2022) lên 8% (năm 2023).[78]
Ngoài ra, theo số liệu từ cơ quan chức năng, độ tuổi sử dụng ma túy tại Việt Nam đang ngày càng trẻ hóa. Khoảng 60% người sử dụng ma túy lần đầu trong độ tuổi từ 15 - 25, thậm chí có nhiều trường hợp ở độ tuổi 13 - 15. Hơn nữa, trong tổng số 95% người sử dụng ma túy tổng hợp, có tới 75% người ở độ tuổi 17 - 35.[79]
Tóm lại, lối sống thiếu vận động và thường xuyên sử dụng các chất kích thích đã và đang tác động tiêu cực đến sức khỏe của giới trẻ Việt Nam. Hệ quả tất yếu là các chỉ số thể chất của họ đang suy giảm dần và tình trạng bệnh tật đang ngày càng trẻ hóa.
1.2. Sống dửng dưng - khép kín
Bên cạnh việc xem thường thân thể, giới trẻ Việt Nam hiện nay cũng đang rơi vào hiện trạng sống thờ ơ và không muốn xây dựng những mối tương quan trực tiếp với tha nhân. Điều đó thể hiện qua thái độ vô cảm của họ, hay qua thực trạng nghiện mạng xã hội; ngán đi chúc Tết.
Trong bối cảnh hiện nay, giới trẻ Việt Nam có nhiều cơ hội học tập và phát triển hơn các thế hệ đi trước. Hệ thống giáo dục ngày càng mở rộng nhằm đào tạo nên những con người có tri thức, có đạo đức để phục vụ tha nhân và xã hội; song thực tế lại cho thấy sự gia tăng đáng lo ngại của những hành vi vô cảm và thiếu đạo đức nơi giới trẻ. Những vụ việc bạo lực học đường, thiếu tôn trọng thầy cô, hay xúc phạm nhân phẩm người khác đang xuất hiện ngày càng nhiều, phản ánh một sự khủng hoảng nhất định trong ý thức trách nhiệm và nhân cách xã hội của họ. Đáng lưu tâm hơn là khi chứng kiến các vụ việc này, không ít người trẻ lại tỏ ra dửng dưng, bàng quan như không thấy gì. Thậm chí, thay vì can ngăn, giải thích đúng sai, họ lại cổ vũ, lan truyền các hành vi sai trái ấy trên không gian mạng. Hơn nữa, nhiều người trẻ mặc dầu có điều kiện nhưng lại không sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn. Họ thường chọn cách đứng ngoài quan sát thay vì hỗ trợ; trong một số trường hợp, có người chẳng những không cứu giúp nạn nhân mà còn lợi dụng tình huống ấy để trục lợi.[80]
Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đã và đang tái định hình cách giới trẻ xác lập bản sắc và duy trì các mối tương quan xã hội. Với họ, việc sở hữu tài khoản và hoạt động thường xuyên trên các nền tảng như Facebook, Zalo hay Instagram, v.v., gần như đã trở thành một tiêu chí quan trọng để khẳng định sự tồn tại của bản thân. Vì thế, họ thường dành phần lớn thời gian trên mạng xã hội cho những tương tác trực tuyến thay vì giao tiếp trực tiếp.[81] Các khảo sát cho thấy có đến 35% người trẻ thừa nhận mạng xã hội góp phần định hình bản thân họ; đồng thời, nhiều người trẻ đang rơi vào tình trạng nghiện mạng xã hội, khi dành từ 2 - 5 giờ/ngày để dùng mạng xã hội.[82]
Mặc dù đã góp phần rút ngắn khoảng cách về địa lý, nhưng thực tế cho thấy công nghệ cũng đang làm gia tăng khoảng cách giữa con người với con người. Trong bối cảnh ấy, các sinh hoạt truyền thống như sum họp gia đình và chúc Tết đầu năm đang dần bị giới trẻ xem nhẹ. Thay vì gặp gỡ trực tiếp để thăm hỏi và chúc Tết nhau, nhiều người trẻ Việt hiện nay lại lựa chọn cách chúc Tết họ hàng và người thân bằng tin nhắn; thậm chí, có người còn nảy sinh tâm lý chán Tết vì cảm thấy không thoải mái trong giao tiếp trực diện với họ hàng. Hệ quả là các mối tương quan của giới trẻ Việt Nam trong gia đình và cộng đồng đang dần trở nên lỏng lẻo.[83]
1.3. Sống yếu nhược - tiêu cực
Thêm vào đó, giới trẻ Việt Nam hiện nay còn dễ rơi vào trạng thái thất vọng, khủng hoảng. Điều đó thể hiện qua hiện trạng buồn chán, trầm cảm và tự tử nơi họ đang ngày một gia tăng. Nguyên nhân của hiện trạng này có thể xuất phát từ việc họ cảm thấy tự ti về mặt thể lý hay tâm lý; áp lực học tập và công việc; các vấn đề trong quan hệ xã hội; lạm dụng các chất kích thích; sử dụng mạng xã hội quá nhiều hay thiếu kỹ năng xử lý căng thẳng v.v.
Các số liệu thống kê cho thấy xu hướng bi quan và chán nản trong giới trẻ Việt Nam hiện nay đang gia tăng đáng kể. Một nghiên cứu chỉ ra có khoảng 73,1% người trẻ từng trải qua cảm giác buồn chán; trong đó, 27,6% cảm thấy bản thân thật vô dụng, 21,3% cảm thấy thất vọng về tương lai, và 4,1% đã từng nảy sinh ý nghĩ tự tử. Đáng chú ý, tình trạng này phổ biến hơn ở nhóm tuổi trẻ hơn: khoảng 75% người trong độ tuổi 14 - 21 từng trải qua cảm giác buồn chán, trong khi tỷ lệ ở nhóm 22 - 25 tuổi là hơn 65%.[84]
Tình trạng bi quan và chán nản kéo dài chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh trầm cảm mà rất nhiều người trẻ Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt. Theo báo cáo của Bộ Y tế Việt Nam (năm 2023), khoảng 3,2 triệu người Việt Nam đang mắc trầm cảm; trong đó, nhóm từ 18 - 29 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất. Đồng thời, các nghiên cứu khác cũng cho thấy các vấn đề sức khỏe tâm thần đang trở thành gánh nặng đáng kể đối với giới trẻ, với khoảng 40% người trẻ trên toàn quốc đang gặp phải những vấn đề về tâm lý ở các mức độ khác nhau.[85]
Thực tế cho thấy, bệnh trầm cảm không chỉ là một vấn đề sức khỏe tâm thần đơn lẻ, mà còn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi tự tử ở giới trẻ Việt Nam. Theo thống kê, trong những năm gần đây, tỷ lệ người trẻ tự tử do trầm cảm có xu hướng gia tăng; đây cũng là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai ở giới trẻ Việt. Trung tâm Phòng chống Khủng hoảng Tâm lý (PCP) cho biết, tại Việt Nam, tỷ lệ người trong nhóm từ 15 - 24 tuổi có ý định tự sát cao nhất. Một cuộc điều tra khác trên hơn 10.000 người trẻ cho thấy khoảng 25% trong số họ từng tìm cách tự sát.[86]
Không chỉ vậy, một xu hướng đáng quan ngại khác đang tồn tại nơi giới trẻ Việt Nam là lối sống ích kỷ, hưởng thụ và thiếu ý thức trách nhiệm. Trước hết, thực trạng này thể hiện qua thái độ thờ ơ của họ đối với việc học tập và lao động. Một bộ phận không nhỏ người trẻ Việt Nam đang sống thụ động, ỷ lại vào gia đình, thiếu động lực trong học tập và lao động. Sự phát triển của công nghệ khiến họ dễ lầm tưởng rằng các công cụ kỹ thuật có thể hoàn toàn thay thế cho quá trình nỗ lực học tập và lao động. Từ đó, dẫn đến thực trạng nhiều người trẻ không muốn làm gì cả, hoặc chỉ học cho xong - làm cho có mà không hề suy nghĩ tới những hậu quả trong tương lai.[87]
Không chỉ trong lĩnh vực học tập và lao động, sự thờ ơ trong giới trẻ còn được thể hiện qua thái độ của họ trước các vấn đề chung của xã hội, đặc biệt là vấn đề môi trường. Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng về môi trường, từ rác thải nhựa đến ô nhiễm không khí và suy thoái nguồn nước.[88] Dù là những người trực tiếp chịu ảnh hưởng từ thực trạng ấy, nhưng giới trẻ Việt Nam dường như lại chẳng hề quan tâm tới vấn đề này. Một khảo sát cho thấy khoảng 40% người trong nhóm từ 15 - 24 tuổi thừa nhận họ chưa nhận thức đầy đủ về tác động của việc suy thoái môi trường đến nơi mình sinh sống; đồng thời, chỉ khoảng 30% từng tham gia các hoạt động hoặc cuộc họp liên quan đến bảo vệ môi trường tại địa phương, và phần lớn dù ý thức được vấn đề môi trường nhưng lại thường chưa chuyển hóa thành những hành động cụ thể.[89]
Nghiêm trọng hơn, sự suy giảm ý thức trách nhiệm của giới trẻ Việt Nam còn được bộc lộ qua thái độ xem nhẹ các giá trị nền tảng của gia đình. Điều này được phản ánh qua sự gia tăng đáng lo ngại của các hiện tượng như sống thử, phá thai và ly hôn.
Sống thử trước hôn nhân đang ngày càng trở nên phổ biến trong giới trẻ Việt Nam. Theo một báo cáo, khoảng một phần ba thanh niên Việt Nam đã từng sống thử. Hầu hết chấp nhận việc quan hệ tình dục trước hôn nhân; và khi mang thai ngoài ý muốn, khoảng một nửa trong số họ lựa chọn phá thai thay vì tiến tới hôn nhân.[90] Bên cạnh đó, Việt Nam nằm trong những quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao trên thế giới, trong đó giới trẻ (đặc biệt là học sinh và sinh viên) chiếm tỷ lệ đáng kể.[91] Ngoài ra, tỷ lệ ly hôn tại Việt Nam cũng đang gia tăng nhanh chóng. Theo thống kê, hiện nay tại Việt Nam, cứ 4 cặp kết hôn sẽ có 1 cặp ly hôn; trong đó, 70% số ca ly hôn thuộc nhóm người trẻ từ 18 - 30 tuổi.[92]
Có lẽ, một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến thực trạng đáng lo ngại trên nơi giới trẻ Việt Nam hiện nay là do cái nhìn sai lệch về thân xác con người. Cụ thể, đó là quan niệm cho rằng thân xác cùng những gì liên quan đến nó chỉ là những thực tại thuần túy sinh học và tạm bợ, nên sẽ bị tan biến chứ không được phục sinh và biến đổi trong ngày sau hết. Chính từ cái nhìn hạn hẹp và bi quan ấy, nhiều người trẻ Việt Nam xem nhẹ thân thể, tỏ ra vô cảm với tha nhân, tuyệt vọng trước đau khổ, đồng thời suy giảm động lực để xây dựng xã hội và thế giới này. Trong bối cảnh đó, tín điều thân xác phục sinh đóng vai trò định hướng, giúp họ có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về phẩm giá con người cũng như về trách nhiệm của chính mình trong cuộc sống hiện tại.
Trước hết, theo Giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo, thân xác mà chúng ta đang sống sẽ được Thiên Chúa cho sống lại vào ngày sau hết; và thân xác phục sinh có tính đồng nhất với thân xác hiện nay. Qua đó, Giáo Hội muốn mời gọi giới trẻ hãy tôn trọng, quan tâm và chăm sóc thân thể mình hơn nữa. Như Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo (số 364) dạy rằng: “Thân xác con người cũng được dự phần vào phẩm giá là hình ảnh của Thiên Chúa. Chính con người toàn diện được trở nên chi thể trong Thân Thể của Chúa Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần.” Trước đó, Công Đồng Vaticanô II cũng khẳng định: “Chúng ta không được khinh miệt thân xác, nhưng trái lại, phải coi thân xác mình là tốt đẹp và đáng tôn trọng vì thân xác ấy do Thiên Chúa tạo dựng và sẽ được sống lại ngày sau hết.”[93] Trong chiều hướng ấy, Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô cũng cho rằng:
Sự sống vĩnh cửu đã bắt đầu trong thời điểm này; nó đã bắt đầu và luôn hướng về thời điểm phục sinh cuối cùng. […] Trong khi chờ đợi ngày tận thế, chúng ta mang trong mình hạt giống phục sinh như một sự tham dự trước sự phục sinh viên mãn mà chúng ta sẽ lãnh nhận như một sản nghiệp. Chính vì lẽ đó, thân xác của mỗi chúng ta cũng là âm vang vĩnh cửu, vì vậy, nó luôn phải được trân trọng.[94]
Như vậy, niềm tin vào sự sống lại của thân xác không chỉ là việc tuyên xưng một tín điều, mà đúng hơn, đó phải là sống một lối sống mới. Bởi vì, nếu thân xác chỉ là thứ tạm bợ, việc hủy hoại nó có thể được xem nhẹ; nhưng nếu thân xác là chi thể của Chúa Kitô; là đền thờ của Chúa Thánh Thần và sẽ được tham dự vào đời sống vĩnh cửu thì mọi hành vi làm tổn hại đến nó đều trở nên nghiêm trọng. Do đó, lười vận động, uống rượu bia vô độ, hay sử dụng thuốc lá, ma túy, v.v., không còn đơn thuần là một lựa chọn lối sống, mà đúng hơn là một sự xúc phạm đến chính Thiên Chúa - Đấng đã dựng nên và cứu chuộc thân xác con người.
Thêm vào đó, tín điều này còn giúp giới trẻ biết sống có trách nhiệm hơn với thân xác mình. Bởi vì, cuộc sống trần thế này chính là thời gian chuẩn bị cho sự sống lại; nói cách khác, thân xác hôm nay chính là hạt giống được gieo xuống để mọc lên thành thân xác vinh hiển mai sau. Chúng ta không thể gieo xuống một hạt giống bệnh tật, èo uột rồi mong đợi sẽ có một cây lúa xanh tươi, trĩu hạt trong tương lai. Cũng vậy, chúng ta không thể xem thường và nuôi dưỡng thân xác mình trong những thú vui, những thói quen độc hại, rồi lại mong đợi nó sẽ trở nên tươi đẹp trong ngày phục sinh. Vì thế, việc chăm sóc và rèn luyện thân thể phải trở thành một phần của đời sống đức tin. Tập thể dục đều đặn, ăn uống lành mạnh, nghỉ ngơi hợp lý, v.v., không còn đơn thuần là sở thích cá nhân, mà đúng hơn phải là bổn phận của một người quản lý khôn ngoan; người luôn biết chuẩn bị cho mình một hạt giống thân xác tốt đẹp, để xứng đáng được Thiên Chúa biến đổi trong ngày sau hết.
2.2. Sống nhân ái - thân thiện
Tiếp đến, Giáo Hội Công Giáo luôn xác tín rằng thân xác chúng ta sẽ được phục sinh; và thân xác phục sinh sẽ có tính đồng nhất với thân xác hiện tại. Vì thế, nó sẽ mang nơi mình toàn bộ lịch sử cá nhân, đặc biệt là các mối tương quan mà chúng ta đã tích cực xây dựng: Thiên Chúa - con người, cha mẹ - con cái, anh em, bạn bè, đồng nghiệp, v.v. Trong sự sống đời sau, những mối tương quan này không hề bị xóa bỏ, nhưng sẽ được thanh luyện và hoàn tất.[95] Quả vậy, Đức cố Giáo hoàng Phanxicô cũng từng khẳng định: “Khi phục sinh, chúng ta sẽ vẫn là chính mình. Điều này làm cho người Kitô hữu an lòng vì chúng ta hiểu rằng mọi thứ, đặc biệt là mối tương quan mà chúng ta đã thiết lập với Thiên Chúa, với tha nhân và với trần gian này sẽ không bị mất đi.”[96]
Một tác giả khác cũng cho rằng vì chính chúng ta sẽ sống lại trong thân xác hiện tại, nên chắc chắn chúng ta sẽ nhận ra nhau, nhận ra những người mà chúng ta đã từng yêu thương, chăm sóc. Tất cả những gì chúng ta sống hôm nay: những nghĩa cử yêu thương, những hy sinh thầm lặng, v.v., đều sẽ để lại dấu ấn trong chính con người của chúng ta và sẽ được biến đổi trong vinh quang Thiên Chúa.[97]
Chính trong viễn tượng ấy, tín điều thân xác phục sinh như một phương dược hữu hiệu giúp giới trẻ Việt Nam vượt qua thái độ vô cảm, để tái khám phá ý nghĩa của sự dấn thân và học cách sống tương quan cách trọn vẹn hơn không chỉ với tha nhân mà còn là với Thiên Chúa cũng như với thiên nhiên, vũ trụ. Qua đó, tín điều này đã đưa ra một ý nghĩa tối hậu cho mọi hành vi hiện tại.
Thật vậy, nếu mọi sự kết thúc bằng cái chết và hư vô, thì thái độ vị kỷ và sống khép kín có thể được xem là bình thường; nhưng nếu thân xác và những mối tương quan ở đời này có giá trị vĩnh cửu, thì sự sống hiện tại không phải là một khoảng thời gian vô nghĩa nhưng là một quá trình đầu tư cho tương lai. Một đời sống đức tin sống động, một tình yêu chân thành, những tấm lòng nhân ái, những nụ cười tươi, những ánh mắt đẹp, những hành động vì xã hội - thiên nhiên, v.v., tất cả không còn là những thói quen, hay những hành vi theo cảm tính, mà sẽ trở thành những cử chỉ mang ý nghĩa cánh chung, những nét đẹp sẽ được thêm vào nơi thân xác phục sinh.
Mặt khác, tín điều này còn giúp giới trẻ ý thức rằng không thể thay thế hoàn toàn các mối tương quan trực tiếp bằng những kết nối ảo. Họ được mời gọi chỉ nên xem công nghệ như phương tiện hỗ trợ, chứ không phải như nơi chính yếu để thiết lập các tương quan. Bởi vì, tương quan đích thực luôn đòi hỏi sự hiện diện của thân xác, sự gặp gỡ mặt đối mặt giữa những con người cụ thể và toàn vẹn bằng xương, bằng thịt.
2.3. Sống kiên cường - tích cực
Bên cạnh đó, niềm tin Kitô giáo cũng khẳng định rằng thân xác chúng ta sẽ được phục sinh; và thân xác ấy cũng sẽ được biến đổi để trở nên hoàn thiện hơn. Nói cách khác, thân xác của chúng ta không phải là một thực tại phụ thuộc, tạm bợ và vô giá trị, mà là thành phần thiết yếu của con người toàn diện. Mặc dù mang trong mình những giới hạn và tổn thương do tội lỗi và sự mong manh của kiếp người, nhưng thân xác ấy vẫn được Thiên Chúa yêu thương, cứu chuộc và ban sự sống đời đời. Niềm tin vào sự phục sinh của thân xác khẳng định rằng thân xác con người (dù mang nơi mình những khiếm khuyết về thể lý cũng như tâm lý) sẽ không bị hủy diệt trong hư vô, nhưng sẽ được sống lại, được biến đổi và được hoàn thiện trong ngày sau hết.[98] Chính xác tín thần học này có khả năng giúp giới trẻ Việt Nam vượt qua cảm thức tuyệt vọng, tái khám phá giá trị bản thân và can đảm đối diện với những đau khổ, giới hạn nơi mình, trong sự bình an và một niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng.
Hơn nữa, khi nhìn nhận thân xác như một yếu tố nền tảng và bất biến của con người toàn diện sẽ được phục sinh, đồng thời ý thức về lời mời gọi của Chúa Giêsu: hãy trở nên đồng hình đồng dạng với Người, giới trẻ Việt Nam có thể đón nhận những đau khổ thể lý và tâm lý trong một ý nghĩa sâu xa hơn, như một phương thế để nên đồng hình đồng dạng với Đấng đã từng chịu đau khổ, thay vì chỉ xem đó là một thực tại vô nghĩa. Hơn nữa, qua Rm 6, 1-14, thánh Phaolô cũng khẳng định rằng việc cùng đau khổ và cùng chết với Chúa Kitô là điều kiện cần và cũng là cách thức để chúng ta được phục sinh với Người.[99]
Ngoài ra, tín điều này còn giúp giới trẻ Việt Nam hiểu rằng những khiếm khuyết hiện tại không phải là vô giá trị hay như sự thất bại chung cuộc, mà chính là một phần trong hành trình của con người đang hướng tới sự viên mãn trọn vẹn vào ngày phục sinh. Trong viễn tượng ấy, thân xác bị tổn thương hiện tại sẽ không bị bỏ rơi, nhưng sẽ được Thiên Chúa chữa lành và biến đổi. Cách nhìn này mở ra một niềm hy vọng mới, nơi đó mọi đau khổ không còn mang tính tuyệt đối, mọi vết thương sẽ được chữa lành và mọi bất toàn sẽ được hoàn tất trong tình yêu của Thiên Chúa.
Sau cùng, trong niềm tin kiên vững, Giáo Hội Công Giáo luôn tuyên xưng rằng thân xác con người sẽ được phục sinh cùng với toàn thể nhân loại và vũ trụ. Thật vậy, thánh Phaolô đã khẳng định rằng cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam, mọi người cũng sẽ được sống nơi Chúa Kitô (x. 1Cr 15,22). Bên cạnh đó, ngài cũng nhấn mạnh rằng toàn thể vũ trụ đang mong ngóng và đợi chờ để được phục sinh cùng với nhân loại trong ngày sau hết (x. Rm 8, 19-23). Như thế, vũ trụ cũng như xã hội hiện tại sẽ không bị phá hủy mà sẽ được thanh luyện và nâng lên một trạng thái vinh quang mới để trở thành Trời Mới Đất Mới, vì sự phục sinh của Chúa Kitô không chỉ là hoa quả đầu mùa cho nhân loại mà còn cho toàn thể công trình tạo dựng. Hơn nữa, việc vũ trụ được phục sinh cũng là điều kiện tất yếu cho sự phục sinh của nhân loại, vì con người (với thân xác của mình) luôn gắn bó hữu cơ và không thể tách rời với môi trường tự nhiên.[100]
Trên cơ sở đó, tín điều thân xác phục sinh đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành một nhân sinh quan tích cực và có trách nhiệm nơi giới trẻ Việt Nam về việc xây dựng và bảo vệ thế giới, qua việc giúp họ hiểu rằng những hành động được thực hiện qua thân xác: lao động, dấn thân xây dựng xã hội, bảo vệ môi sinh, v.v., sẽ không hề mất đi ý nghĩa, nhưng được ghi khắc trong lịch sử cứu độ.
Do đó, khi xác tín rằng thân xác con người cũng như thế giới sẽ được biến đổi và hoàn thiện trong ngày sau hết, mọi nỗ lực nhằm làm cho xã hội trở nên nhân bản hơn và môi trường sống trở nên lành mạnh hơn đều mang một giá trị vĩnh cửu. Hơn nữa, tín điều này còn giúp nuôi dưỡng nơi giới trẻ Việt Nam một thái độ tôn trọng sâu xa đối với thế giới. Nếu thế giới không phải là một thực tại sẽ bị tan biến, mà là thụ tạo Thiên Chúa được mời gọi đi vào sự biến đổi và viên mãn, thì việc khai thác vô độ hay hủy hoại môi trường và xã hội không còn chỉ là một sai lầm sinh thái hay nhân bản, mà còn là một sự phủ nhận ý nghĩa cánh chung của thụ tạo và chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Vì vậy, tín điều này giúp giới trẻ Việt Nam hiểu rằng việc xây dựng thế giới và bảo vệ môi trường chính là một hành vi mang chiều kích đức tin, thể hiện sự tôn trọng đối với kế hoạch cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người và vũ trụ, như tông thư Dies Domini đã khẳng định::
Vũ trụ được Thiên Chúa tạo dựng luôn mang dấu ấn tốt lành và vẻ đẹp nội tại. Vì vậy, con người hãy tham gia vào việc chăm sóc và phát triển nó. Điều này có nghĩa là con người được kêu gọi không chỉ cư ngụ trong vũ trụ, mà còn cần tích cực xây dựng nó. Qua đó, họ được trở thành cộng sự viên của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo của Người.[101]
Tín điều thân xác phục sinh nơi Kitô giáo không phải là một đạo lý cánh chung xa vời, nhưng là một chân lý nền tảng, mang một ý nghĩa nhân học và hiện sinh sâu sắc, có khả năng định hình căn tính, nhân sinh quan và lối sống của con người trong cuộc sống hiện tại. Đặc biệt, trong bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam hiện nay, nơi mà quan niệm về con người thường bị phân mảnh giữa thân xác và linh hồn, hoặc bị giản lược vào chiều kích vật chất và hưởng thụ, tín điều này càng tỏ lộ giá trị độc đáo và cấp thiết của nó.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy tín điều thân xác phục sinh vẫn còn khá xa lạ và khó hiểu đối với nhiều người trẻ Việt Nam hiện nay. Điều này đòi hỏi Giáo Hội phải có một định hướng mục vụ phù hợp, toàn diện, linh hoạt và sâu sắc, vừa trung thành với nội dung đức tin, vừa đáp ứng nhu cầu và bối cảnh cụ thể của giới trẻ Việt Nam.
Trước hết, cần đổi mới phương pháp trình bày giáo lý: theo hướng hiện sinh và đối thoại hơn. Thay vì chỉ trình bày tín điều này như một chân lý trừu tượng, Giáo Hội cần giúp giới trẻ Việt Nam nhận ra ý nghĩa cụ thể của nó trong cuộc sống thường nhật. Chẳng hạn, việc trình bày tín điều thân xác phục sinh trong mối tương quan với các chủ đề mà họ đang quan tâm: sức khỏe, thân thể, tình yêu, đau khổ, cái chết v.v., sẽ giúp họ dễ dàng tiếp cận và đón nhận đạo lý này hơn. Điều này đòi hỏi một đường hướng mục vụ mang tính liên ngành, kết hợp giữa thần học với nhân học và các khoa học nhân văn khác.
Tiếp đến, cần đặc biệt nhấn mạnh đến chiều kích chứng tá của đời sống Kitô hữu; nói cách khác, cần làm cho tín điều thân xác phục sinh trở nên sống động trong đời sống của cộng đoàn. Các cộng đoàn Kitô hữu cần trở thành nơi mà thân xác con người được tôn trọng và chăm sóc; bởi vì không gì có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn một đời sống được biến đổi bởi đức tin. Khi giới trẻ Việt Nam thấy nơi cộng đoàn của mình (đặc biệt là nơi những người trưởng thành trong đức tin) một lối sống tôn trọng thân xác, yêu thương tha nhân, kiên vững và tràn đầy hy vọng trong thử thách, v.v., họ sẽ dễ dàng bị thu hút và đặt câu hỏi về nền tảng của lối sống ấy. Chính nhờ đó, tín điều thân xác phục sinh có thể được truyền đạt một cách sống động và hiệu quả cho họ.
Sau cùng, cần giúp giới trẻ Việt Nam sống tín điều thân xác phục sinh qua những hành động cụ thể. Các phong trào giới trẻ, các nhóm thiện nguyện, các hoạt động xã hội, v.v., cần được khuyến khích và hỗ trợ để trở thành những môi trường thuận lợi, nơi họ có cơ hội nâng đỡ nhau trong đức tin, cùng nhau sống và làm chứng cho niềm hy vọng phục sinh. Khi tích cực tham gia vào những hoạt động này, với ý hướng làm cho thế giới tốt đẹp hơn, đồng thời biến chính thân xác mình trở nên khí cụ của tình yêu và công lý, họ sẽ ngày càng vững tin hơn vào sự phục sinh của thân xác bất chấp mọi khó khăn và thử thách trong cuộc sống.
²²²
Tín điều thân xác phục sinh là một trong những chân lý nền tảng và đặc thù nhất của Kitô giáo, có khả năng soi sáng toàn bộ nhân sinh quan và lối sống của con người. Đặc biệt, trong bối cảnh giới trẻ Việt Nam đang đối diện với cuộc khủng hoảng về nhân học, với những thách đố của lối sống hưởng thụ, vô cảm, tuyệt vọng v.v., tín điều này chính là một liều thuốc chữa lành, một nguồn hy vọng bất diệt và một kim chỉ nam định hướng cho cuộc đời của họ.
Qua việc khẳng định ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho linh hồn, nhưng bao trùm toàn thể con người (gồm cả thân xác), tín điều này giúp giới trẻ Việt Nam nhận ra phẩm giá cao quý của thân xác, đồng thời mời gọi họ tôn trọng và chăm sóc thân thể mình như một bổn phận thiêng liêng. Qua đó, nó mở ra viễn tượng về mối tương quan vĩnh cửu với Thiên Chúa; thúc đẩy họ vượt qua thái độ dửng dưng để xây dựng tình yêu thương và liên đới với tha nhân. Bên cạnh đó, tín điều này cũng mang lại cho họ niềm hy vọng giữa những thử thách và thất bại, khẳng định rằng đau khổ không phải là tiếng nói cuối cùng và mọi tổn thương hiện tại sẽ được chữa lành trong vinh quang phục sinh. Hơn nữa, nó còn mở ra chiều kích xã hội và vũ trụ, khi mời gọi họ dấn thân xây dựng thế giới này như một sự chuẩn bị cho Trời Mới Đất Mới.
Tuy nhiên, để tín điều này thực sự trở thành một động lực sống động trong đời sống giới trẻ Việt Nam, Giáo Hội cần có những định hướng mục vụ phù hợp, mang tính hội nhập văn hóa và đáp ứng được những thao thức cụ thể của họ. Bởi vì chỉ khi được hiểu đúng, được sống và được làm chứng trong đời sống hằng ngày, niềm tin vào thân xác phục sinh mới có thể phát huy trọn vẹn sức mạnh biến đổi của nó.
Tóm lại, tín điều thân xác phục sinh không chỉ là câu trả lời cho những vấn nạn về sự sống đời sau, mà còn có vai trò định hướng cho đời sống hiện tại. Trong một thế giới đang đối diện với nhiều khủng hoảng về nhân học và những giá trị nền tảng, niềm tin này mở ra một viễn tượng toàn diện về con người: con người được tạo dựng, được cứu chuộc và được mời gọi bước vào sự sống viên mãn với toàn bộ hiện hữu của mình. Chính vì thế, việc đào sâu, trình bày và sống tín điều này như thế nào không chỉ là một nhiệm vụ của thần học, nhưng còn là một sứ mạng mục vụ cấp thiết của Giáo Hội trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay. Bởi vì, đây chính là phương dược giúp giới trẻ Việt Nam tái khám phá lại giá trị đích thực của thân xác, ý nghĩa sâu xa của cuộc sống, và niềm hy vọng vững chắc vào sự sống vĩnh cửu trong Thiên Chúa.
vVăn kiện Giáo Hội
Bộ Giáo lý Đức tin. Huấn thị Về việc mai táng và lưu giữ tro hỏa táng – (Ad Resurgendum cum Christo, 15/08/2016. https://hdgmvietnam.com/chi–tiet/huan–thi–%E2%80%9Cad–resurgendum–cum–christo%E2%80%9D–ve–viec–mai–tang–va–luu–giu–tro–hoa–tang–17911.
____ Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2016.
____ Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes – GS). Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2012.
Gioan Phaolô II. Tông thư Ngày của Chúa – (Dies Domini), 31/05/1998. http://huangiao.com/index.php/van–kien/duc–giao–hoang/tong–thu/item/1187–tong–thu–dies–domini–ngay–cua–chua–cua–dgh–gioan–phaolo–ii–ngay–31–05–1998.
Nhóm Phụng vụ Các giờ kinh. Kinh Thánh Trọn Bộ (ấn bản 2011). Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2015.
Trento, The Catechism of The Council of Trent (Part I, Article XI), John A. McHugh, and Charles J. Callan, (chuyển ngữ và viết lời tựa), https://www.saintsbooks.net/books/The%20Roman%20Catechism.pdf.
Ủy ban Giám mục về Phụng vụ, Bài đọc trong Thánh Lễ, xuất bản tại Sài Gòn, năm 1973.
Ủy ban Quốc tế về Thần học. Văn kiện Một vài vấn đề hiện nay liên quan đến cánh chung (Some current questions in Eschatology), 16/11/1991. Bản dịch Việt ngữ trong phần phụ lục của Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 387 – 458.
v Sách
Trần Ngọc Anh. Nhân học Kitô giáo – Tạo dựng. Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2018.
Augustin. De Civitate Dei (Book 22, Chapter 2 – 11). Marcus Dods (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 03/11/2025. https://www.newadvent.org/fathers/120122.htm.
Vương Đình Bích. Niềm hy vọng vào Đấng Cứu Độ chúng ta. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2009.
Cadiere, Leopold. Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt (tập 3). Đỗ Trinh Huệ chuyển ngữ. Huế: NXB Thuận Hóa, 2010.
Cantalamessa, Raneiro. Mầu nhiệm Phục sinh. Ngọc Đính chuyển ngữ. ĐCV Sao Biển, 2002.
Didache. MB Riddle (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 06/09/2025. https://www.newadvent.org/fathers/0714.htm.
Nguyễn Đăng Duy. Văn hóa tâm linh. Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin, 2002.
Dumoutier, Gustave. Tang lễ của người An Nam. Nguyễn Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Thanh Hằng chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Thế Giới, 2023.
Gomez, Felipe. Cánh chung học. ĐCV Sao Biển, 2004.
Gregory of Nyssa. De Anima et Resurrectione. William Moore and Henry Austin Wilson (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 12/09/2025. https://www.newadvent.org/fathers/2915.htm.
Nguyễn Hạnh. Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Hồ Chí Minh: NXB Trẻ, 2019.
Heinrich. Denzinger. Nguyễn Văn Hòa chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2019.
Bourgeois, Henri. Je crois à la résurrection des corps. desclée, 1981. Trong Trần Ngọc Anh. Nhân học Kitô giáo – Tạo dựng (bài đọc thêm số 11). Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2018.
Irene. Adversus Haereses (Book V, Chapter 14). Alexander Roberts and William Rambaut (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 25/10/2025. https://www.newadvent.org/fathers/0103514.htm.
John Chrysostom. Homilies on 1Corinthians (Homily 39 – 42). Talbot W. Chambers (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 12/09/2025. https://www.newadvent.org/fathers/2201.htm.
Nguyễn Văn Khảm. Đường về Emmau. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2012.
Nguyễn Văn Khanh. Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô. Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2020.
Nam Lâm. Sống ảo, bao nhiêu cho vừa?. Hà Nội: NXB Hội Nhà Văn, 2019.
Nhiều tác giả. Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn hóa Dân tộc, 1998.
Nhóm Tu sĩ. Giải đáp thắc mắc cho người trẻ Công Giáo (tập 4). Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2021.
Origen. De Principiis (Book II, Chapter 10). Frederick Crombie (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 20/10/2025. https://www.newadvent.org/fathers/04122.htm.
Giáo hoàng Phanxicô & Marco Pozza. Credo. Đặng Linh chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2023.
Polycarp. Epistola ad Philippenses (Chapter 2). Alexander Roberts and James Donaldson (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 08/10/2025. https://www.newadvent.org/fathers/0136.htm.
Ratzinger, Joseph. Cánh chung luận – Sự chết và đời sống vĩnh cửu. Nguyễn Văn Trinh chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2013.
____ Chết và Sự sống đời sau. Phạm Hồng Lam chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2023.
____ Dẫn nhập đức tin Kitô giáo. Nguyễn Quốc Lâm – Phạm Hồng Lam chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2023.
Sesboüé, Bernard. La Résurrection et la vie. Desclée, Paris, 1990. Trong Trần Ngọc Anh. Nhân học Kitô giáo – Tạo dựng (bài đọc thêm số 9). Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2018.
Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng. Cánh chung học. Tp. HCM: Học viên Liên dòng Tôma, 2004.
Nguyễn Hữu Thy. Tử quy hay trên đường về nhà Cha. Gp Trier: NXB Trung tâm Mục vụ CGVN, 2016.
Tertullian. De Resurrectione Carnis (Chapter 1). Peter Holmes (chuyển dịch sang Anh ngữ). Truy cập 20/10/2025. https://www.newadvent.org/fathers/0316.htm.
Trương Đình Tín. Phong tục Việt Nam. Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, 1999.
Nguyễn Hai Tính. Giáo trình dẫn nhập Kitô học. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2021.
v Tạp chí chuyên ngành
Battocchio, Riccardo. “Đời sống vĩnh cửu trong Kinh Thánh và Truyền Thống.” Thời sự Thần học 75 (Tháng 2/2017): 156 – 175.
Ceroke, Christian Paul. “Sự phục sinh của Đức Kitô theo các bản văn Tân Ước.” Thời sự Thần học 100 (Tháng 5/2023): 59 – 88.
O’Callaghan, Paul. “Sự phục sinh thân xác.” Nguyễn Long Quân chuyển ngữ. Thời sự Thần học 100 (tháng 5/2023): 124 – 161.
Nguyễn Chí Quốc. “Tín Biểu Nicea: Lịch sử và tiến triển.” Thời sự Thần học 109 (Tháng 8/2025): 97 – 134.
Schoenborn, Christoph. “Sống Lại Phần Xác trong Niềm Tin Của Giáo Hội." Vũ xuân Huyên chuyển ngữ. Hợp Tuyển Thần Học 04 (năm 1992): 65 – 86.
Ngô Minh. “Sống lại.” Vũ Xuân Huyên chuyển ngữ. Hợp tuyển Thần học 38 – 39 (năm 2005): 139 – 174.
____ “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy.” Hợp tuyển Thần học 38 – 39, (năm 2005): 243 – 257.
v Tạp chí phổ thông
Lamphere, Galen – Englund. “Báo cáo Nghiên cứu thế hệ trẻ Việt Nam.” British Council, tháng 8/2020.
Phương Nguyễn. “Báo cáo về vận động thể lực ở trẻ em và vị thành niên Việt Nam.” Active Healthy Kids Global Alliance & Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, năm 2022.
Unicef. “Nghiên cứu toàn diện về các yếu tố liên quan đến trường học ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và sự phát triển toàn diện của trẻ em nam và nữ vị thành niên tại Việt Nam.” Hà Nội, năm 2022.
v Luận văn
Trần Thảo Nguyên. “Sống thử trong giới trẻ Việt Nam hiện nay.” Luận văn tốt nghiệp – Trường Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2023.
Đoàn Thị Hoài Thương. “Thực trạng tự tử hiện nay ở Việt Nam.” Luận văn tốt nghiệp – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, 2022.
v Trang Web
Ban thời sự. “Việt Nam là một trong 10 nước có người dân lười vận động nhất thế giới.” Truy cập 24/03/2025. https://vtv.vn/tin–bai–vtv/viet–nam–la–mot–trong–10–nuoc–co–nguoi–dan–luoi–van–dong–nhat–the–gioi–20240820154610443.htm.
An Bình. “Việt Nam nằm trong 10 nước không khí ô nhiễm nhất thế giới.” Truy cập 24/09/2025. https://dantri.com.vn/the-gioi/viet-nam-nam-trong-10-nuoc-khong-khi-o-nhiem-nhat-the-gioi-1328858510.htm.
Hoàng Giang. “Lười lao động, ‘căn bệnh’ của giới trẻ thời nay.” Truy cập 22/04/2025. https://dantri.com.vn/lao–dong–viec–lam/luoi–lao–dong–can–benh–cua–gioi–tre–thoi–nay–20170622080547859.htm.
Sơn Hà. “Việt Nam xếp thứ 2 khu vực Đông Nam Á, thứ 3 châu Á về tiêu thụ rượu bia.” Truy cập 24/03/2025. https://vtv.vn/xa–hoi/viet–nam–xep–thu–2–khu–vuc–dong–nam–a–thu–3–chau–a–ve–tieu–thu–ruou–bia–20220707020840737.htm.
Thanh Hà. “Tại sao Tết của người Việt đang dần mất đi hương sắc cổ truyền?” Truy cập 04/04/2025. https://viettimes.vn/tai–sao–tet–cua–nguoi–viet–dang–dan–mat–di–huong–sac–co–truyen–post142231.html.
Ngọc Hiền. “Nhiều người trẻ Việt Nam lướt mạng xã hội hơn 3 giờ mỗi ngày.” Truy cập 25/03/2025. https://vtv.vn/cong–nghe/nhieu–nguoi–tre–viet–luot–mang–xa–hoi–hon–3–gio–moi–ngay 20250107165655668.htm?utm_source=chatgpt.com.
Nguyễn Hiền. “Người trẻ nghiện ma túy đang có chiều hướng tăng.” Truy cập 26/03/2025. https://vov.vn/phap–luat/nguoi–tre–nghien–ma–tuy–dang–co–chieu–huong–tang–post1072818.vov.
Thu Hiền. “Tuổi teen tập hút thuốc, cha mẹ lo lắng.” Truy cập 24/03/2025. https://tuoitre.vn/tuoi–teen–tap–hut–thuoc–cha–me–lo–lang–20241206155601359.htm.
Phạm Văn Huỳnh. “Vấn đề thân xác sống lại theo tư tưởng của thánh Phaolô (1Cr15).” Truy cập 23/11/2025. https://dcvphanxicoxavie.com/vn/Than–Hoc/Van–de–than–xac–song–lai–theo–tu–tuong–cua–thanh–Phaolo–1cr–15.html.
Phạm Lợi. “Các đặc tính của Thân Xác Phục Sinh.” Truy cập 10/11/2025. https://hdgmvietnam.com/chi–tiet/cac–dac–tinh–cua–than–xac–phuc–sinh–39688.
Uyên Na. “Giới trẻ đang ngày càng buồn chán.” truy cập 07/04/2025. https://baophapluat.vn/gioi–tre–dang–ngay–cang–buon–chan–post42422.html.
Văn Ngân. “Mỗi năm Việt Nam thải khoảng 1,8 triệu tấn rác nhựa.” Truy cập 12/10/2025. https://vov.vn/xa-hoi/moi-nam-viet-nam-thai-khoang-18-trieu-tan-rac-nhua-post1021301.vov.
Nhóm tác giả. “Sinh viên sống thử: lợi ít, hại nhiều.” Truy cập 18/03/2025. https://songtre.com.vn/sinh–vien–song–thu–loi–it–hai–nhieu–p21207.html.
PRO Vietnam and TGM Research. “PRO Vietnam Cooperates with TGM Research to Launch Report on Waste Segregation at Source in Vietnam.” Truy cập 12/10/2025. https://provietnam.com.vn/en/news/pro–vietnam–cooperates–with–tgm–research–to–launch–report–on–waste–segregation–at–source–in–vietnam/?utm_source=chatgpt.com.
Diệu Thúy. “Mỗi năm có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước ô nhiễm.” Truy cập 16/09/2025. https://www.vietnamplus.vn/moi–nam–co–khoang–9000–nguoi–tu–vong–vi–nguon–nuoc–o–nhiem–post436706.vnp.
Vũ Văn Trình. “Giới Trẻ trước căn bệnh vô cảm.” Truy cập 20/03/2025. https://tgpsaigon.net/bai–viet/gioi–tre–truoc–can–benh–vo–cam–36760.
VTV Digital. “Ly hôn xanh – Vỡ mộng tình yêu từ những cuộc hôn nhân chóng vánh.” Truy cập 22/03/2025. https://vtv.vn/xa–hoi/ly–hon–xanh–vo–mong–tinh–yeu–tu–nhung–cuoc–hon–nhan–chong–vanh–20240607145323802.htm.
[1] X. Trương Đình Tín, Phong tục Việt Nam, (Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, 1999), 161 - 162. Xem thêm: Gustave Dumoutier, Tang lễ của người An Nam, Nguyễn Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Thanh Hằng chuyển ngữ, (Hà Nội: NXB Thế Giới, 2023), 213.
[2] X. Gustave Dumoutier, Tang lễ của người An Nam, 211.
[3] X. Nguyễn Hạnh, Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, (Hồ Chí Minh: NXB Trẻ, 2019), 226.
[4] X. Gustave Dumoutier, Tang lễ của người An Nam, 211 - 212.
[5] X. Nguyễn Hạnh, Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, 225.
[6] Nguyễn Du, Truyện Kiều, Vũ Ngọc Khánh chú giải và khảo cứu, (Hà Nội: NXB Lao Động, 2016), 18.
[7] X. Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh, (Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin, 2002), 166 - 167.
[8] X. Nguyễn Hạnh, Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, 225 - 226.
[9] X. Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh, 167.
[10] X. Nguyễn Hạnh, Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, 219.
[11] X. Nhiều tác giả, Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam, (Hà Nội: NXB Văn hóa Dân tộc, 1998), 105 - 106.
[12] X. Ibid,.
[13] X. Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh, 192.
[14] X. Leopold Cadiere, Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt (tập 3), Đỗ Trinh Huệ chuyển ngữ, (Huế: NXB Thuận Hóa, 2010), 148.
[15] Có sự khác biệt đáng chú ý về từ ngữ giữa hai bản Kinh Tin Kính mà các tín hữu thường tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại” (trong Kinh Tin Kính của các Tông Đồ) và “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau” (trong Kinh Tin Kính của Công đồng Nicêa-Constantinôpôli). Cả hai công thức tuyên tín này đều bắt nguồn từ những truyền thống rất cổ xưa của Giáo Hội. Trong hầu hết các bản tuyên tín của Giáo Hội Đông Phương, cụm từ kẻ chết sống lại được sử dụng phổ biến. Ngược lại, công thức thân xác sống lại lại được xem là cách diễn đạt giáo lý nền tảng trong truyền thống Rôma, và sau đó trở thành công thức phổ biến trong toàn bộ truyền thống Latinh cũng như Hy Lạp. Mặc dù có sự khác biệt về ngôn từ, cả hai cách diễn tả trên đều quy hướng về cùng một nội dung tín lý: Đó là niềm tin vào sự phục sinh của con người toàn thể. Vì thế, khi nói kẻ chết sống lại, Giáo Hội luôn hiểu theo nghĩa cụ thể rằng điều đó ám chỉ sự sống lại của thân xác con người. (Xem thêm tại: Christoph Schoenborn, “Sống Lại Phần Xác trong Niềm Tin Của Giáo Hội," Vũ xuân Huyên chuyển ngữ, Hợp Tuyển Thần Học 04 (năm 1992): 66 - 67.)
[16] Trừ những trích dẫn riêng, còn lại tất cả các trích dẫn Kinh Thánh trong bài viết này đều được lấy từ sách Kinh Thánh Trọn Bộ (ấn bản 2011) của Nhóm Phụng vụ Các giờ kinh, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2015).
[17] X. Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” Nguyễn Long Quân chuyển ngữ, Thời sự Thần học 100 (Tháng 5/2023): 127.
[18] X. Felipe Gomez, Cánh chung học, (ĐCV Sao Biển, 2004), 264.
[19] X. Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, (Hồ Chí Minh: Học viên Liên dòng Tôma, 2004), 163; và Felipe Gomez, Cánh chung học, 264 - 265.
[20] Trích Bài đọc I (Thứ 5, Tuần 26 Thường Niên - năm chẵn) trong sách Bài đọc trong Thánh Lễ của Ủy ban Giám mục về Phụng vụ, xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn.
[21] X. Giáo hoàng Phanxicô & Marco Pozza, Credo, Đặng Linh chuyển ngữ, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2023), 192; và Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 163.
[22] X. Riccardo Battocchio, “Đời sống vĩnh cửu trong Kinh Thánh và Truyền Thống”, Thời sự Thần học 75 (Tháng 2/2017): 160; và Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 129 - 130.
[23] X. Felipe Gomez, Cánh chung học, 265.
[24] X. Giáo hoàng Phanxicô & Marco Pozza, Credo, 191.
[25] X. Joseph Ratzinger, Chết và Sự sống đời sau, Phạm Hồng Lam chuyển ngữ, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo: 2023), 145.
[26] X. Joseph Ratzinger, Cánh chung luận - Sự chết và đời sống vĩnh cửu, Nguyễn Văn Trinh chuyển ngữ, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2013), 142 - 143; và Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 130-131.
[27] X. Joseph Ratzinger, Chết và sự sống đời sau, 147 - 148; và Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 169 - 175.
[28] X. Ngô Minh, “Sống lại,” Vũ Xuân Huyên chuyển ngữ, Hợp tuyển Thần học 38-39, (năm 2005): 150; và Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 133.
[29] X. Christian Paul Ceroke, “Sự phục sinh của Đức Kitô theo các bản văn Tân Ước”, Thời sự Thần học 100 (Tháng 5/2023): 68 - 75.
[30] Như đã trình bày trong phần II.1.1 - Cựu Ước.
[31] X. Joseph Ratzinger, Chết và Sự sống đời sau, 511 - 513.
[32] X. Joseph Ratzinger, Chết và sự sống đời sau, 147 - 148. Xem thêm: Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 132; và: Christoph Schoenborn, “Sống Lại Phần Xác trong Niềm Tin Của Giáo Hội," 75 - 76.
[33] X. Riccardo Battocchio, “Đời sống vĩnh cửu trong Kinh Thánh và Truyền Thống”, 160. Xem thêm: Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 130 - 131.
[34] X. Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 130 - 131, 145. Xem thêm: Nhóm Tu sĩ, Giải đáp thắc mắc cho người trẻ Công Giáo (tập 4), (Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2021), 20.
[35] X. Phạm Văn Huỳnh, “Vấn đề thân xác sống lại theo tư tưởng của thánh Phaolô (1Cr15)”, truy cập 23/11/2025, https://dcvphanxicoxavie.com/vn/Than-Hoc/Van-de-than-xac-song-lai-theo-tu-tuong-cua-thanh-Phaolo-1cr-15.html.
[36] X. Nguyễn Văn Khanh, Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô, (Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2020), 163 - 179. Xem thêm Nguyễn Chí Quốc, “Tín Biểu Nicea: Lịch sử và tiến triển, Thời sự Thần học 109 (Tháng 8/2025): 98.
[37] X. Tertullian, De Resurrectione Carnis (Chapter 1), Peter Holmes (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 20/10/2025, https://www.newadvent.org/fathers/0316.htm.
[38] X. Heinrich, Denzinger, Nguyễn Văn Hòa chuyển ngữ, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2019), 76.
[39] X. Ibid., 72, 540 và Bộ Giáo lý Đức tin, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển ngữ (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2016), 988 - 991.
[40] X. Didache, MB Riddle (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 06/09/2025, https://www.newadvent.org/fathers/0714.htm.
[41] Heinrich, Denzinger, 2.
[42] X. Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 178.
[43] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị Ad Resurgendum cum Christo - Về việc mai táng và lưu giữ tro hỏa táng, 15/08/2016, số 3, 5, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/huan-thi-%E2%80%9Cad-resurgendum-cum-christo%E2%80%9D-ve-viec-mai-tang-va-luu-giu-tro-hoa-tang-17911. Xem thêm: Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 175.
[44] X. Polycarp, Epistola ad Philippenses (Chapter 2), Alexander Roberts and James Donaldson (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 08/10/2025, https://www.newadvent.org/fathers/0136.htm.
[45] X. Irene, Adversus Haereses (Book V, Chapter 14), Alexander Roberts and William Rambaut (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 25/10/2025, https://www.newadvent.org/fathers/0103514.htm.
[46] X. Tertullian, De Resurrectione Carnis (Chapter 1). Xem thêm: Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 125.
[47] X. Origen, De Principiis (Book II, Chapter 10), Frederick Crombie (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 20/10/2025, https://www.newadvent.org/fathers/04122.htm. Xem thêm: X. Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 177 - 178.
[48] X. Heinrich, Denzinger, 76.
[49] X. John Chrysostom, Homilies on 1Corinthians (Homily 39 - 42), Talbot W. Chambers (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 12/09/2025. https://www.newadvent.org/fathers/2201.htm.
[50] X. Augustin, De Civitate Dei (Book 22, Chapter 2 - 11), Marcus Dods (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 03/11/2025, https://www.newadvent.org/fathers/120122.htm.
[51] X. Heinrich, Denzinger, 540, 801, 859, 1002. Xem thêm: Bộ Giáo lý Đức tin, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo,988 – 991; Trento, The Catechism of The Council of Trent (Part I, Article XI), John A. McHugh, and Charles J. Callan, (chuyển ngữ), 88 - 94, truy cập 03/11/2025, https://www.saintsbooks.net/books/The%20Roman%20Catechism.pdf.
[52] Nguyễn Hai Tính, Giáo trình dẫn nhập Kitô học, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2021), 287 - 288.
[53] X. Joseph Ratzinger, Dẫn nhập đức tin Kitô giáo, Nguyễn Quốc Lâm - Phạm Hồng Lam chuyển ngữ, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2023), 519 - 520. Xem thêm: Phạm Lợi, “Các đặc tính của Thân Xác Phục Sinh”, truy cập 10/11/2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/cac-dac-tinh-cua-than-xac-phuc-sinh-39688.
[54] X. Joseph Ratzinger, Dẫn nhập đức tin Kitô giáo, 519 - 520.
[55] X. Ibid,.
[56] X. Ibid,.
[57] X. Henri Bourgeois, Je crois à la résurrection des corps, desclée, 1981, trong Trần Ngọc Anh, Nhân học Kitô giáo - Tạo dựng (bài đọc thêm số 11), (Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2018), 417 - 425.
[58] Bộ Giáo lý Đức tin, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 1000.
[59] X. Nguyễn Hai Tính, Giáo lý tổng quan và diễn giải, (Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2020), 186. Xem thêm: Nguyễn Văn Khanh, Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô, 213; Vương Đình Bích, Niềm hy vọng vào Đấng Cứu Độ chúng ta, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2009), 155.
[60] X. Nguyễn Hữu Thy, Tử quy hay trên đường về nhà Cha, (NXB Trung tâm Mục vụ CGVN, Gp Trier: CHLB Đức, 2016), 144 - 145. Xem thêm: Nhóm Tu sĩ, Giải đáp thắc mắc cho người trẻ Công Giáo (tập 4), 20 - 21.
[61] X. Ibid,.
[62] X. Gregory of Nyssa, De Anima et Resurrectione, William Moore and Henry Austin Wilson (chuyển dịch sang Anh ngữ), truy cập 12/09/2025, https://www.newadvent.org/fathers/2915.htm; Origen, De Principiis (Book II, Chapter 10); John Chrysostom, Homilies on 1Corinthians (Homily 39 - 42); Augustin, De Civitate Dei (Book 22, Chapter 2 - 11).
[63] X. Ủy ban Thần học Quốc tế, Một vài vấn đề hiện nay liên quan đến cánh chung, 1991, số 4.3 và số 5.4, Bản dịch Việt ngữ trong phần phụ lục của Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 387 - 458.
[64] X. Nhóm Tu sĩ, Giải đáp thắc mắc cho người trẻ Công Giáo (tập 4), 20. Xem thêm: X. Paul O’Callaghan, “Sự phục sinh thân xác,” 145.
[65] X. Raniero Cantalamessa, Mầu nhiệm Phục sinh, Ngọc Đính chuyển ngữ, 2002, 76. Xem thêm: Nguyễn Văn Khảm, Đường về Emmau, (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2012), 573.
[66] X. Origen, De Principiis (Book II, Chapter 10); Gregory of Nyssa, De Anima et Resurrectione; John Chrysostom, Homilies on 1Corinthians (Homily 39 - 42); Augustin, De Civitate Dei (Book 22, Chapter 2 - 11).
[67] X. Phạm Văn Huỳnh, “Vấn đề thân xác sống lại theo tư tưởng của thánh Phaolô (1Cr15)”.
[68] X. Bernard Sesboüé, La Résurrection et la vie, Desclée, Paris, 1990, trong Trần Ngọc Anh, Nhân học Kitô giáo - Tạo dựng (bài đọc thêm số 9), 419 - 420.
[69] X. Trần Ngọc Anh, Nhân học Kitô giáo - Tạo dựng (bài đọc thêm số 11), 427.
[70] X.Ibid., 423.
[71] X. Phan Tấn Thành, Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 191 - 195.
[72] X. Joseph Ratzinger, Dẫn nhập đức tin Kitô giáo, 465 - 466, 521.
[73] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes - GS), Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển ngữ (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2012), số 39; và Bộ Giáo lý Đức tin, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 1042 - 1050.
[74] X. Phương Nguyễn, “Báo cáo về vận động thể lực ở trẻ em và vị thành niên Việt Nam”, Active Healthy Kids Global Alliance & Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (năm 2022): 1.
[75] X. Ban thời sự, “Việt Nam là một trong 10 nước có người dân lười vận động nhất thế giới”, truy cập 24/03/2025, https://vtv.vn/tin-bai-vtv/viet-nam-la-mot-trong-10-nuoc-co-nguoi-dan-luoi-van-dong-nhat-the-gioi-20240820154610443.htm.
[76] X. Sơn Hà, “Việt Nam xếp thứ 2 khu vực Đông Nam Á, thứ 3 châu Á về tiêu thụ rượu bia”, truy cập 24/03/2025, https://vtv.vn/xa-hoi/viet-nam-xep-thu-2-khu-vuc-dong-nam-a-thu-3-chau-a-ve-tieu-thu-ruou-bia-20220707020840737.htm.
[77] X. H. Chung, “4,6% người Việt Nam trẻ tuổi nghiện rượu bia ở mức độ nặng”, truy cập 26/03/2025, https://www.vietnamplus.vn/46-nguoi-viet-nam-tre-tuoi-nghien-ruou-bia-o-muc-do-nang-post344477.vnp.
[78] X. Thu Hiền, “Tuổi teen tập hút thuốc, cha mẹ lo lắng”, truy cập 24/03/2025, https://tuoitre.vn/tuoi-teen-tap-hut-thuoc-cha-me-lo-lang-20241206155601359.htm.
[79] X. Nguyễn Hiền, “Người trẻ nghiện ma túy đang có chiều hướng tăng”, truy cập 26/03/2025, https://vov.vn/phap-luat/nguoi-tre-nghien-ma-tuy-dang-co-chieu-huong-tang-post1072818.vov.
[80] X. Vũ Văn Trình, “Giới Trẻ trước căn bệnh vô cảm”, truy cập 20/03/2025, https://tgpsaigon.net/bai-viet/gioi-tre-truoc-can-benh-vo-cam-36760.
[81] X. Nam Lâm, Sống ảo, bao nhiêu cho vừa?, (Hà Nội: NXB Hội Nhà Văn, 2019), 17 - 21.
[82] X. Galen Lamphere - Englund, “Báo cáo Nghiên cứu thế hệ trẻ Việt Nam”, British Council (Tháng 8/2020): 17. Xem thêm: Ngọc Hiền, “Nhiều người trẻ Việt Nam lướt mạng xã hội hơn 3 giờ mỗi ngày”, truy cập 25/03/2025, https://vtv.vn/cong-nghe/nhieu-nguoi-tre-viet-luot-mang-xa-hoi-hon-3-gio-moi-ngay 20250107165655668.htm?utm_source=chatgpt.com.
[83] X. Thanh Hà, “Tại sao Tết của người Việt đang dần mất đi hương sắc cổ truyền?”, truy cập 04/04/2025, https://viettimes.vn/tai-sao-tet-cua-nguoi-viet-dang-dan-mat-di-huong-sac-co-truyen-post142231.html.
[84] X. Uyên Na, “Giới trẻ đang ngày càng buồn chán”, truy cập 07/04/2025, https://baophapluat.vn/gioi-tre-dang-ngay-cang-buon-chan-post42422.html.
[85] X. Unicef, “Nghiên cứu toàn diện về các yếu tố liên quan đến trường học ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và sự phát triển toàn diện của trẻ em nam và nữ vị thành niên tại Việt Nam”, Hà Nội (năm 2022): 1.
[86] X. Đoàn Thị Hoài Thương, “Thực trạng tự tử hiện nay ở Việt Nam” (Luận văn tốt nghiệp - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, 2022), 1.
[87] X. Hoàng Giang, “Lười lao động, ‘căn bệnh’ của giới trẻ thời nay”, truy cập 22/04/2025, https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/luoi-lao-dong-can-benh-cua-gioi-tre-thoi-nay-20170622080547859.htm.
[88] X. An Bình, “Việt Nam nằm trong 10 nước không khí ô nhiễm nhất thế giới”, truy cập 24/09/2025, https://dantri.com.vn/the-gioi/viet-nam-nam-trong-10-nuoc-khong-khi-o-nhiem-nhat-the-gioi-1328858510.htm. Xem thêm: Văn Ngân, “Mỗi năm Việt Nam thải khoảng 1,8 triệu tấn rác nhựa”, truy cập 12/10/2025, https://vov.vn/xa-hoi/moi-nam-viet-nam-thai-khoang-18-trieu-tan-rac-nhua-post1021301.vov; Diệu Thúy, “Mỗi năm có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước ô nhiễm”, truy cập 16/09/2025, https://www.vietnamplus.vn/moi-nam-co-khoang-9000-nguoi-tu-vong-vi-nguon-nuoc-o-nhiem-post436706.vnp.
[89] X. PRO Vietnam and TGM Research, “PRO Vietnam Cooperates with TGM Research to Launch Report on Waste Segregation at Source in Vietnam”, truy cập 12/10/2025, https://provietnam.com.vn/en/news/pro-vietnam-cooperates-with-tgm-research-to-launch-report-on-waste-segregation-at-source-in-vietnam/?utm_source=chatgpt.com.
[90] X. Trần Thảo Nguyên, “Sống thử trong giới trẻ Việt Nam hiện nay” (Luận văn tốt nghiệp - Trường Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2023), 8.
[91] X. Nhóm tác giả, “Sinh viên sống thử: lợi ít, hại nhiều”, truy cập 18/03/2025, https://songtre.com.vn/sinh-vien-song-thu-loi-it-hai-nhieu-p21207.html.
[92] X. VTV Digital, “Ly hôn xanh - Vỡ mộng tình yêu từ những cuộc hôn nhân chóng vánh”, truy cập 22/03/2025, https://vtv.vn/xa-hoi/ly-hon-xanh-vo-mong-tinh-yeu-tu-nhung-cuoc-hon-nhan-chong-vanh-20240607145323802.htm.
[93] GS, 14.
[94] Giáo hoàng Phanxicô & Marco Pozza, Credo, 196 - 197.
[95] Như đã trình bày trong phần II.
[96] Giáo hoàng Phanxicô & Marco Pozza, Credo, 181.
[97] X. Nhóm Tu sĩ, Giải đáp thắc mắc cho người trẻ Công Giáo (tập 4), 18 - 19.
[98] Như đã trình bày trong phần II (trang 22 - 27).
[99] X. Joseph Ratzinger, Chết và sự sống đời sau, 147 - 148.
[100] Như đã trình bày trong phần II (trang 27 - 28).
[101] Gioan Phaolô II, Tông thư Dies Domini - Ngày của Chúa (số 10), 31/05/1998, truy cập 15/12/2025, http://huangiao.com/index.php/van-kien/duc-giao-hoang/tong-thu/item/1187-tong-thu-dies-domini-ngay-cua-chua-cua-dgh-gioan-phaolo-ii-ngay-31-05-1998.
Bài liên quan