Chủng sinh Phêrô Nguyễn Thành Tường - Khóa XXIII, ĐCV Sao Biển
“Đi xứ” – cụm từ nghe qua tưởng chừng đơn giản nhưng lại chất chứa cả một bầu trời khắc khoải, lo âu. “Đi xứ” - một bước tiến trên hành trình ơn gọi dâng hiến, nhưng cũng là một bước ngoặc có thể sẽ rẽ ngang. Bởi lẽ, xứ không chỉ là nơi để làm mục vụ, nhưng còn là nơi để sống. Trước khi mục vụ được thành công thì hãy sống sao cho “thành công”. Đây là một điều tưởng-không-khó, nhưng lắm khi nó lại khó-không-tưởng. Sống không phải là một hành trình bằng phẳng nhưng là một con đường gập gềnh, xen lẫn giữa niềm vui và nỗi buồn, thành công và thất bại. Đó là lý do người ta nói: sống là đang triết mà triết cũng là đang sống. Dưới góc độ này, người viết sẽ đơn cử một vài luận chứng điển hình để cho thấy triết học sẽ giúp ích thế nào cho người đi xứ.
1. Minh triết Đông phương giúp người đi xứ dám bỏ mình để sống “thuận theo ý Chúa” một cách nhẹ nhàng và an nhiên.
Có thể nói cuộc sống nơi môi trường giáo xứ quả là một cuộc nhập thế của những người đi tu. Hằng ngày người đi xứ sẽ gặp không ít người, sẽ làm không ít việc, sẽ đối diện không biết bao nhiêu là cảnh huống. Kết quả, có cái đem lại vị ngọt của sự bình an, nhưng cũng có cái đem lại vị đắng của sự gãy đổ. Gãy đổ vì những sự xảy đến không như ý mình, gãy đổ vì những sự va chạm, những lời chỉ trích, người khen kẻ chê, người thương kẻ ghét, v.v. Chính lúc đó, triết lý về chữ buông nơi triết học Đông phương trở nên thật hữu ích cho hành trang của người đi xứ.
Nói về chữ buông, không nhiều thì ít, hầu hết các trường phái triết Đông từ triết Ấn, triết học Phật giáo nguyên thủy đến triết Trung đều đề cập đến tư tưởng này. Song, bản thân người viết cảm thấy gần gũi và dễ cảm được chữ buông nhất khi đọc lại câu chuyện cổ mang tên “Chiếc thuyền rỗng” được viết trong chương Sơn Mộc, cuốn Nam Hoa Kinh của Trang Tử, rằng:
“Như một chiếc đò đương qua sông, bị một chiếc thuyền đụng phải, người chủ đò dù bụng dạ có hẹp hòi cũng không giận. Nếu trên thuyền đó có người thì tất chủ đò đã la lớn: Tránh ra! La một lần không nghe thì la lần thứ nhì, vẫn không nghe thì tới lần thứ ba tất chửi rủa. Trước kia không giận mà bây giờ giận là tại sao? Là vì trước thuyền không có người, bây giờ thuyền có người. Biết hư tâm mà xử thế thì ai hại mình được?”
Câu chuyện trên thật ngắn nhưng để lại một bài học về chữ buông vô cùng sâu sắc. Cuộc sống là một dòng sông và mỗi người chúng là một chiếc thuyền. Thuyền di chuyển có khéo léo bao nhiêu cũng không thể tránh khỏi sự va chạm. Những lúc như thế, nếu ta coi mình là trung tâm thì mọi va chạm (tranh cãi, chỉ trích, lời khen tiếng chê, đôi khi là bị la, bị chửi) sẽ khiến ta bực mình, cáu gắt. Ngược lại, nếu tâm ta rỗng, không chấp trước, không bị cái tôi làm chủ thì mọi va chạm dù có lớn đến đâu cũng không làm ta đau khổ được. Vì lẽ, đau khổ, tức giận chỉ xảy ra vì ta đã quá bận tâm vào cái tôi của chính mình và điều mà người khác đã đối xử với mình. Do đó, khi ta học được chữ buông - buông đi cái tôi thì mắt ta sẽ nhìn thấy được tính khách quan, tính “vô tội” của những điều trái ý. Đó là lý do Trang Tử viết: “Biết hư tâm mà xử thế thì ai hại mình được?”.
Đây là một bài học rất hữu ích cho người đi xứ. Giữa một thế giới đề cao sự hơn thua, giành giật đúng sai, người đi xứ được mời gọi hãy học cách khoan dung với người khác và bao dung hơn với những điều trái ý xảy đến với mình.
2. Triết học Tây phương giúp người đi xứ tìm ra ý nghĩa trong những công việc nhỏ nhặt hằng ngày.
Nếu như triết học Đông phương thiên về cảm xúc nội tâm thì triết học Tây phương lại thiên về tư duy lý trí qua việc nhận biết cái gì là trường tồn bất biến, cái gì là biến dịch mau qua để rồi từ đó khám phá ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Khi nói về việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, người ta thường nghĩ nó chỉ tồn tại ở nơi những công việc vĩ đại, những thành công to lớn. Bằng chứng là những ngày gần đây, người ta vẫn truyền tai nhau câu nói: Nếu cả đời này không rực rỡ thì sao? Nghe qua tưởng chừng như một triết lý sống, nhưng ẩn sâu bên trong lại là bộ khung sườn gián tiếp định nghĩa thế nào là “rực rỡ” và chắc chắn dưới não trạng đó thì “rực rỡ” không thể là những gì nhỏ bé, thầm lặng, thông thường.
Tuy nhiên, triết học Tây phương, đặc biệt là nơi triết học của Albert Camus (1913–1960), đã cho thấy: dù trong những công việc vụn vặt, nhỏ bé, bình thường hàng ngày vẫn nội tại một ý nghĩa đích thực. Qua bài luận về thần thoại Hòn đá của Sisyphus, ông muốn nhắn gửi đến tất cả con người thời nay: Hãy tìm kiếm ý nghĩa dù cả trong những sự phi lý. Như Sisyphus – anh hùng của sự phi lý, dù hình phạt vô nghĩa, ông vẫn tiếp tục đẩy đá. Đó là một công việc nhàm chán, cứ lặp đi lặp lại, đôi khi lại chẳng đem đến kết quả gì nhưng Albert Camus nhận định: Cần phải thấy rằng Sisyphus hạnh phúc vì ông đã chấp nhận và vượt lên trên chính nghịch cảnh của mình.
Đây không phải là một tư tưởng triết học cao siêu, nhưng là một tư tưởng triết học thực tế, gần gũi đời sống con người, đặc biệt là cuộc sống nơi giáo xứ của người đi xứ. Với một lịch trình đã được sắp đặt sẵn, những công việc tay chân đôi khi là tẻ nhạt, buồn chán, tệ hơn nữa là “trái ngành”, trái với khả năng vốn có của người đi xứ mà cứ lặp đi lặp lại thì quả là một sự “tra tấn”. Tuy nhiên, Triết Học nhắc nhở chúng ta rằng: thay vì cảm thấy hụt hẫng và muốn thoái lui, ta có thể chọn cách đối mặt với chúng bằng tình yêu, sự năng nổ và hăng say. Có như thế, ta sẽ học được cách khám phá ra vẻ đẹp và ý nghĩa nơi chính công việc mình đang làm dù lớn, dù nhỏ, dù được chú ý hay thậm chí chẳng ai thèm quan tâm.
Kết
Trên đây là góc nhìn tổng quan về triết học và cũng là một chút cảm được của người đang đi xứ. Nói về triết thì biết bao nhiêu là đủ. Mỗi tư tưởng đem lại mỗi cái hay. Riêng bản thân người viết, sở dĩ chọn hai tư tưởng trên: một là triết lý chữ buông của Trang Tử và hai là triết lý tìm kiếm ý nghĩa trong sự phi lý của Albert Camus, chỉ đơn giản vì chúng rất gần gũi với lời dạy chí thánh của Thầy Giêsu: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Thật vậy, đây là hai điều tối quan trọng mà một người đi xứ cần phải có: một là bỏ mình, hai là vác thập giá trong những công việc bổn phận hằng ngày. Nếu không bỏ mình, đi xứ quả thật là nặng nề, áp lực, đôi khi là phản khảng, chống đối. Nếu không chấp nhận vác thập giá hằng ngày, đi xứ quả thật tẻ nhạt, buồn chán, đôi khi là thấy vô nghĩa rồi dễ dẫn đến cảm thức so sánh: mình phải xứng đáng được nhiều hơn!
--------------
Tài liệu tham khảo
Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Nguyễn Hiến Lê dịch, Hà Nội: NXB Văn Hóa – Thông Tin, 1994.
Albert Camus, The Myth of Sisyphus and Other Essays, translated by Justin O’Brien, New York: Vintage Books, 1991.