KẾ HOẠCH CỨU ĐỘ THỰC SỰ CỦA THIÊN CHÚA LÀ GÌ?
Chủng sinh Giuse Nguyễn Minh Khôi

Thiên Chúa muốn cứu độ toàn thể nhân loại. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã được chính Đức Giêsu thực hiện cách đây hơn 2000 năm. Kinh thánh ghi lại cho chúng ta biết Đức Giêsu đã thực hiện kế hoạch đó thế nào: Đức Giêsu đã nhập thể làm người; sống 30 năm ẩn dật; sau 3 năm giảng dạy về Nước Thiên Chúa và kêu gọi người ta sám hối, Đức Giêsu đã chịu chết cách khổ đau trên thập giá, và nhất là Ngài đã phục sinh.
Tuy nhiên, ngay nay người ta vẫn còn khá mơ hồ về ý nghĩa của những biến cố Đức Giêsu đã trải qua, đặc biệt là việc Đức Giêsu phải chịu khổ hình và chịu chết, dẫn đến hiểu sai trọng tâm của công trình cứu độ của Thiên Chúa. Thế nên trong bài viết này, chúng ta cùng nhau làm rõ quan niệm Đức Giêsu đền bù tội lỗi cho nhân loại, nguyên nhân của những đau khổ và cái chết của Đức Giêsu, và nhất là tầm quan trọng của cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu.
I. Đức Giêsu đền bù
“Đền bù” là một kiểu nói rất thông dụng thời Trung cổ trong Giáo hội La Mã Tây Phương. Nó có phần nội dung gần giống với hiến tế và đền tội, nhưng mang sắc thái pháp lý. Đền bù hàm chứa ý tưởng “công bằng đòi bồi thường”. Vì thế, nó đã đưa người ta đến nhiều quan niệm sai lạc về ơn cứu chuộc của Đức Giêsu[1]. Có lẽ chúng ta ngày nay vẫn thường nghĩ rằng, Đức Giêsu chịu khổ hình, chịu chết trên thập giá là để cứu độ chúng ta. Tư tưởng này là của thánh Alselmô. Chính ngài đã dùng phạm trù “đền bù” để trình bày thần học về ơn cứu độ: Đức Giêsu chịu khổ hình, chịu chết là để đền bù tội lỗi cho chúng ta. Tư tưởng này dần phổ biến rộng khắp Giáo hội đến tận những thế kỷ gần đây, bởi nó có thể giải thích cách “dễ hiểu” tại sao Đức Giêsu lại chọn con đường khổ giá, lại phải chịu chết cách nhục nhã trên thánh giá như thế. Người ta thường gọi kiểu thần học này là thần học pháp lý[2].
Thần học pháp lý quan niệm rằng tổ tông loài người đã phạm tội bất tuân đối với Thiên Chúa, đã xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa. Đó là một sự xúc phạm vô biên mà không một con người nào có thể trả nổi, hay có thể đền bù được. Chỉ có Đức Giêsu vì vừa là người thật, vừa là Thiên Chúa thật – là Đấng vô hạn mới có thể đền bù được sự xúc phạm vô biên ấy. Chính để đền bù xúc phạm ấy, Đức Giêsu phải chấp nhận chịu khổ nạn và chịu chết để đền trả cho Thiên Chúa, đồng thời đem lại ơn giao hòa giữa nhân loại với Thiên Chúa. Chỉ có như thế Thiên Chúa mới tha thứ tội lỗi cho con người. Theo quan niệm này, trọng tâm của công trình cứu độ nằm ở cuộc khổ nạn và thập giá của Đức Giêsu. Nơi mọi sự được đền trả cho Thiên Chúa[3].
Như thế, việc Đức Giêsu chịu khổ hình, chịu chết là tất yếu, là “kế hoạch cứu độ” chính yếu của Thiên Chúa ư? Chẳng lẽ Thiên Chúa lại muốn Con mình đau khổ như thế, thì Ngài mới “hả giận” ư? Thiên Chúa là Cha hay thương xót, là tình yêu vô biên, chẳng lẽ lại đi chấp tội con người, chẳng lẽ Chúa lại tính toán, lại đếm công phạt tội con người. Một Thiên Chúa như một vị thẩm phán “công thẳng” như thế có thể thu hút chúng ta đến với Người. Chúng ta có muốn yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn không? Kinh thánh khẳng định “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4:16).
Thực tế, chúng ta có thể hiểu được: tình yêu đích thực không có chỗ cho điều kiện. Tình yêu của Thiên Chúa là “nhưng không”. Thiên Chúa yêu chúng ta cả khi chúng ta đang là tội nhân, trước cả khi tạo thành vũ trụ. Thiên Chúa yêu nhân loại vì Thiên Chúa muốn, tự do của Người là tuyệt đối “Ta muốn thương xót ai thì thương xót, muốn cảm thương ai thì cảm thương” (Rm 9,15).
II. Nguyên nhân của đau khổ và thập giá
Con người muốn loại trừ Thiên Chúa
Ngay những trang đầu của Kinh thánh, con người đã muốn loại trừ Thiên Chúa rồi. Họ bất tuân lệnh Thiên Chúa, họ muốn tự mình quyết định số phận của bản thân. Họ muốn bằng Thiên Chúa.
Thế nhưng sau cái tội ấy, con người đã phải chịu cực nhọc, khổ đau, và nhất là chịu chết. Cái chết trở thành một điều gây hãi hùng đối với nhân loại. Cái chết dường như sẽ đẩy con người vào hư vô, vào sự quên lãng, vào chốn tuyệt vọng không lối thoát, vào một sự tiêu vong hoàn toàn. Đức Giêsu là người thật, thế nên ắt hẳn Ngài cũng cảm nghiệm được điều này. Chính Ngài đã thốt ra “Thầy buồn đến chết được” (Mt 26,38), “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34).
Một hậu quả trầm trọng khác khi con người tách lìa khỏi Thiên Chúa là nhân loại sẵn sàng loại trừ nhau như trong câu chuyện Cain giết Aben (x.St 4,1-11). Nguyên nhân của việc loại trừ này cũng rất rõ ràng: vì ghen ghét, đố kỵ. Giết một người vì ghen tỵ, phải chăng quá tàn nhẫn sao? Giết chính em của mình, thậm chí còn bi thảm hơn. Kinh thánh ghi lại tội lỗi ngày càng lan tràn đầy mặt đất đến nỗi Chúa phải dùng “lụt hồng thủy” để tái sinh một dân mới. Thế nhưng nhân loại xuất phát từ ông Nôê cũng không ngoại lệ. Tội lỗi vẫn cứ len lỏi khắp cùng cõi đất, chỉ khác là Thiên Chúa hứa sẽ không dùng lụt hồng thủy nữa thôi. Như thế, chúng ta có thể khẳng định đến thời Đức Giêsu nhân loại ắt hẳn đang chìm sâu trong tội. Chính Đức Giêsu đã chỉ ra một loạt các tội của con người lúc đó như giận ghét, ngoại tình, ly dị, thề thốt, trả thù (x.Mt 5,21-48). Vậy khi Đức Giêsu nói “Này Con Người bị nộp cho phường tội lỗi” (Mc 14,41), Ngài đã biết điều gì sẽ xảy đến với Ngài. Cụ thể, Ngài nói trước 3 lần về cuộc khổ nạn Ngài sắp phải chịu.
Như thế, chính con người tội lỗi đã đẩy Đức Giêsu vào đau khổ thập giá. Họ đang thực hiện “thói quen” lâu nay của nhân loại. Họ đang thực hiện theo chính cái tôi kiêu ngạo của nhân loại. Rõ ràng, Đức Giêsu đâu muốn đau khổ, đâu muốn thập giá. Nhưng Người “biết trước” “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11), nhân loại sẽ loại trừ Người. Nhân loại loại trừ Đức Giêsu như một người có thể khiến họ mất đi tầm ảnh hưởng, quyền uy, tiền tài, chức vị, và có thể bắt họ từ bỏ con đường tội lỗi đang đi.
Thánh Gioan đã chỉ rõ sự chối từ này của nhân loại tội lỗi: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.” (Ga 3,19-20).
Do đó, Đức Giêsu chịu khổ hình chịu chết là tất yếu khi Người bước vào trần gian.
Đức Giêsu có tìm kiếm thập giá không?
Khởi đầu sứ vụ công khai Đức Giêsu rao giảng “Nước Trời đã gần đến” và luật yêu mến. Đức Giêsu muốn mọi người trong vương quốc tình yêu của Ngài chỉ cần sống một và chỉ một giới răn yêu thương. Một tình yêu tha thứ cho người khác, kể cả kẻ thù. Quả thật, Đức Giêsu không chủ trương tìm kiếm đau khổ, cũng không đề cao đau khổ, không cam chịu cũng không lẩn trốn trước thử thách thập giá[4]. Tất cả vì yêu và vì vâng phục Chúa Cha. Đấng vì yêu thế gian đã ban Con Một mình. Phần Đức Giêsu, “Người lại còn hạ mình vâng lời, cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Mục đích chính của Người là vâng lời. Còn việc chịu chết trên thập tự là “do” nhân loại (như đã trình bày ở trên). Ở đây, ta nói Đức Giêsu vâng lời chịu chết trên thập tự có phải là việc Chúa Cha muốn không?
Chắc hẳn, chúng ta đã quá quen với câu Kinh thánh “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Chúa Cha yêu thế gian bằng cách cho Con mình xuống “khuyên” con người hoán cải, nhưng vô ích. Họ đã giết chính người Con đó. Ta có thể hiểu việc này qua dụ ngôn về những tá điền sát nhân (Mc 12,1-12). Ông chủ đã tin tưởng giao phó cả sản nghiệp cho những tá điền đó, thế nhưng họ lại lạm dụng chính sự ủy thác ấy. Ông chủ đã cho họ biết bao cơ hội để hoán cải. Ông đã sai hết người này đến người nọ đến “khuyên” những người làm vườn nho đó, nhưng thất bại. Cuối cùng, ông chủ sai con mình đến với hy vọng: “Chúng sẽ nể con ta!”. Nhưng ngược lại với hy vọng đó, chúng bảo nhau “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta”. Quả thật, ông chủ không nỡ trừng trị những tá điền gian ác kia, nhưng luôn mong “kẻ gian ác hoán cải và được sống”. Cái chết của con ông chủ có thể xem là do “vâng lời” đến thay mặt cha “khuyên” kẻ gian ác hoán cải. Đức Giêsu cũng vậy Đức Giêsu chịu khổ hình thập giá là do “vâng lời” Chúa Cha theo ý nghĩa ấy. Chúa Cha hoàn toàn không muốn Đức Giêsu chịu đau khổ, hoàn toàn không muốn Đức Giêsu phải chịu cảnh tủi nhục ấy. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu chỉ nhắm đến mặc khải tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại mà thôi.
III. Tầm quan trọng của cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu
Còn cái chết thì sao? Có thể nói cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu chính là một mặc khải mới của Thiên Chúa cho nhân loại đang hoang mang trước cái chết. Chết để được phục sinh.
Con người có sinh ra thì chắc chắn sẽ phải chết. Nhưng cái chết mà nhân loại trong dòng lịch sử đang nếm trải là cái chết gây kinh hãi. Ý nghĩa của cái chết đã bị bóp méo rồi. Cái chết hiện nay là cái chết mà Thiên Chúa nhắc đến “Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết” (St 3,3). Một cái chết đưa tới sự tiêu vong, dẫn đến sự biến mất hoàn toàn, bị xa lìa với Thiên Chúa mãi mãi. Từ hư vô trở về với hư vô. Chứ không đơn giản là cái chết ‘tự nhiên’ mà ma quỷ nói “chả chết chóc gì đâu” (St 3,4). Vậy trước khi tổ tiên phạm tội, cái chết mà Thiên Chúa muốn con người hướng đến là gì. Nhân loại vẫn sẽ chết, nhưng là chết để được phục sinh, để được thần hóa. Đức Giêsu đã chịu chết là còn muốn mặc khải ý nghĩa đích thực của cái chết ‘tự nhiên’ của con người.
Thế nên, Đức Giêsu đến trần gian để chết. Ngài phải chết để được phục sinh. Giờ chúng ta hãy tạm bỏ qua đau khổ thập giá để chỉ tập trung vào cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, rồi chúng ta thử ngẫm suy câu nói này “Đức Giêsu đã chịu chết và phục sinh để cứu độ chúng ta”.
Chúng ta thấy gì? Trọng tâm của công trình cứu độ của Thiên Chúa là gì? Chẳng phải là chết để được phục sinh sao? Rõ ràng kiểu thần học pháp lý đã quá sai lầm khi cho rằng chết là để đền bù tội lỗi cho nhân loại. Thực ra, chúng ta không thể đền trả gì cho Chúa, còn Chúa thì càng không cần bất cứ sự đền trả nào của chúng ta. Thiên Chúa muốn cứu độ chúng ta là muốn chúng ta được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa, được sống cuộc sống giống như Thiên Chúa. Thánh Gioan đã khẳng định “chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3,2). Sau khi trỗi dậy, chúng ta sẽ là một “thân thể có Thần khí” (1Cr 15,44), một “thân xác vinh hiển” (Pl 3,21), không chỉ có khả năng yêu thương, mà tồn tại bởi tình yêu và bởi sự trao ban chính mình. Bao lâu còn ở trần gian, còn mang một thân xác, chúng ta không thể đạt đến sự trao ban hoàn toàn ấy. Thân xác trần gian là phương tiện để hiệp thông, nhưng nó cũng chống lại sự hiệp thông trọn vẹn. Khi sống ở trần gian, Đức Giêsu yêu thương các môn đệ, nhưng Ngài chỉ có thể sống “bên cạnh” họ. Chỉ khi vượt qua cái chết và phục sinh, Đức Giêsu mới có thể hiến mình hoàn toàn cho chúng ta: “Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (Ga 14,20).
Cũng thế, chúng ta cũng sẽ phải vượt qua cái chết thì mới tìm thấy hạnh phúc và sự sống đích thực. Một định mệnh mà Thiên Chúa đã định sẵn ngay từ khi tạo dựng. Đó là tái sinh lại trong Thánh Thần nhờ tin vào Đức Kitô.
Tin vào Đức Giêsu, chúng ta sẽ được tái sinh trong Thánh Thần
Đức Giêsu đã khẳng định “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,12-13). Từ ngữ “sinh lại” (tái sinh) được đề cập trong cuộc đối thoại với ông Nicôđêmô (Ga 3,3-5), khiến Nicôđêmô không thể hiểu nổi, bởi vì ông hiểu việc “sinh lại” theo nghĩa vật lý.
Nhưng chúng ta sẽ hiểu được nếu xem chết là ngày sinh ra. Chết là ngưỡng cửa để vào nước trời. Chính Đức Giêsu đã nói: “không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.” (Ga 3,5).
Nhiều lần chúng ta chỉ nhìn đến sự nghiệp cứu chuộc của Đức Kitô theo nghĩa tiêu cực (đó là Người cứu chúng ta khỏi tội lỗi), nhưng ít để ý đến khía cạnh tích cực. Đó là chúng ta được thông phần bản tính Thiên Chúa (x.2Pr 1,4), làm nghĩa tử Thiên Chúa (x.Rm 8,14-17), được tham dự vào sự sống bất diệt (x.1Cr 15,52).
Dựa trên những tư tưởng đó mà các giáo phụ phát triển thần học về sự “thần hóa”[5].
1/ Mai sau (vào giai đoạn cánh chung mai hậu), chúng ta được chia sẻ hạnh phúc vĩnh viễn với Thiên Chúa, và chúng ta sẽ được biến đổi hoàn toàn, theo như thánh Phaolô và thánh Gioan đã khẳng định. “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi” (1Cr 13,12). Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người như thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3,2).
2/ Còn trong hiện tại, thì các giáo phụ đề nghị một tiến trình để trở nên giống như Thiên Chúa, theo nhiều cấp độ. Trước hết, nhờ việc thực hành các nhân đức để bắt chước Chúa Kitô; cách riêng chính nhờ thực hành đức bác ái mà chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa. Dần dần, nhờ sự phát triển của khuynh hướng chiêm niệm nơi các giáo phụ Đông phương, người ta đề cao sự chiêm niệm, bao gồm tác động tri thức và ý chí (hiểu biết và yêu mến). Chính qua hai hành vi cao cấp nhất của trí tuệ mà con người tiến đến sự kết hiệp với Thiên Chúa.
Dù sao, có hai điểm mà các giáo phụ không ngừng nhấn mạnh, cách riêng khi đối chiếu với các nền triết học và tôn giáo khác, đó là: a) sự thần hoá không phải là nỗ lực riêng tư của con người, nhưng tiên vàn là hồng ân của Thiên Chúa; b) sự thần hoá dựa theo một quy mẫu là Đức Kitô. Chỉ trong Giêsu Kitô, sự thần hoá mới đạt tới tuyệt đỉnh, khi một con người được kết hiệp với Ngôi Lời Thiên Chúa. Chúng ta được chia sẻ vào hồng ân nghĩa tử Thiên Chúa trong tầm mức duy trì sự kết hiệp với Đức Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Và tiến trình này cũng là tác động của Thánh Linh nữa.
“Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 1,4-5).
Nếu mọi sự được tạo dựng “trong” Đức Kitô và “quy hướng” về Ngài, thì trong nội tâm của chúng đã tồn tại một bản ngã phổ quát. Thánh Phaolô cũng như thánh Gioan nhận thấy ngay ở trần gian Đức Kitô đã “ở trong” chúng ta và chúng ta “ở trong” Ngài (x.Gl 2,19-20; Ga 14,20). Thánh Têrêxa thành Lisieux đã nói “Tôi không chết mà tiến vào sự sống” bởi Đức Giêsu là “sự sống” (Ga 11,25). Vậy nếu cái chết là “dies natalis” (ngày sinh ra), thì cái chết không phân tách con người chúng ta, mà nó là bước quyết định nhất để tiến vào sự sống[6].
Nhờ Thần Khí, chúng ta được làm con Thiên Chúa (Rm 8, 14-17)
“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận được, đâu là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên: “Ápba! Cha ơi!” Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người”.
Như vậy, là chúng ta được trở nên anh em với Đức Kitô, và cùng được mời gọi đi với Ngài trong cuộc đời này.
Tuy nhiên, con người không được thần hóa một lần thay cho tất cả. Nhưng mọi khoảnh khắc trong cuộc đời của chúng ta đều chịu tác động bởi ân sủng Thiên Chúa. Con người được Thiên Chúa thánh hóa “kéo dài” – một sự tạo dựng tiếp diễn – để ta có thể thực sự trở nên đáng yêu trước mặt Người. Nhờ sự hướng dẫn của Thánh Thần từ bên trong, chúng ta được biến đổi mỗi ngày. Thực sự “trở thành” con Thiên Chúa là cùng đích của chúng ta. Như thế, công trình này bởi Thiên Chúa, do Thiên Chúa, nhưng không vì thế con người lại hoàn toàn thụ động. Con người luôn cần đáp lại tình yêu của Chúa, mong ước được ở với Chúa và mong được loại bỏ những gì làm mất lòng Chúa[7].
Đó mới chính là định mệnh mà Thiên Chúa muốn dành cho nhân loại. Đó mới là chiều kích chính yếu của công trình cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa chẳng chấp tội chúng ta, Ngài sẵn sàng tha thứ cho chúng ta mọi sự. Như người cha trong dụ ngôn người cha nhân hậu, Thiên Chúa đã tha thứ cho người con hoang đàng trước khi anh ta trở về rồi. Thiên Chúa luôn giang rộng vòng tay chờ chúng ta “trở về”. Nếu thực sự chúng ta cảm nghiệm được một Thiên Chúa như một người Cha nhân hậu như thế, lẽ nào chúng ta lại không hoán cải, không sẵn sàng chừa bỏ tội lỗi để “trở về”, để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
We shall hereafter refer to the English translation, Christ Our Passover: The Indispensable Role of Resurrection in Our Salvation, trans. John F. Craghan (Liguori Missouri: Liguori, 2004), xiii.
Liguori, MO: Ligouri
[1] x. Nguyễn Văn Khanh, Cuộc Vượt Qua Của Đức Giêsu Kitô, Kitô Học II (Tp HCM: NXB Đồng nai, 2019), 116.
[2] x. Nguyễn Văn Khanh, Cuộc Vượt Qua Của Đức Giêsu Kitô, Kitô Học II, 10.
[3] x. Francis xavier Durrwell, Christ Our Passover, The Indispensable Role of Resurrection in Our Salvation, translated by John F.Craghan (Liguori, US: Liguori, 2004), 38-39.
[4] x. Nguyễn Văn Khanh, Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô – Kitô học II, 58-64.
[5] Phan Tấn Thành, “Thần hóa là gì?,” truy cập ngày 15/04/2022, http://daminhvn.net/hieu-de-song-duc-tin/than-hoa-la-gi-12023.html.
[6] x. Francis xavier Durrwell, Christ Our Passover, The Indispensable Role of Resurrection in Our Salvation, 146-147.
[7] x. Trần Ngọc Anh, Nhân học Kitô Giáo – Tập II, Ân Sủng phần III (Tp. HCM: NXB Tôn Giáo), 234-238.
Bài liên quan