×

Giỏ hàng

166   2025-12-14 19:20:29

TẠI SAO LÀ “GAUDETE?” (MỪNG VUI LÊN)

 

Ngày 13 tháng 12 năm 2007

         Br. Hyacinth Marie Cordell, OP 

Chủng sinh Giuse Trần Quốc Bảo chuyển ngữ từ https://catholicexchange.com

Màu tím là màu phụng vụ của Mùa Chay và Mùa Vọng. Tuy nhiên, khi đã qua hơn nửa chặng đường của hai mùa phụng vụ này, chúng ta lại thấy màu hồng rực rỡ trong phụng vụ… nhưng chỉ trong một Chúa nhật mà thôi. Chúa nhật IV Mùa Chay được gọi là Chúa nhật Laetare, còn Chúa nhật III Mùa Vọng (được gọi) là Chúa nhật Gaudete. Cả hai từ Latinh (Gaudete và Laetare, trích từ Ca Nhập Lễ) đều được dịch là “Mừng vui lên!” Nhưng tại sao là màu hồng (color rose), và tại sao lại là “mừng vui lên”?

Ý nghĩa của màu hồng

Để hiểu được ý nghĩa của màu hồng, trước tiên chúng ta cần phải biết một nguyên tắc phụng vụ nhất định, được diễn đạt qua lời của Tiến sĩ Pius Parsch:

Chu kỳ hàng năm của thiên nhiên được đặc trưng bởi hai hiện tượng: ánh sáng và sự sống. Từ bóng tối của màn đêm, ánh sáng xuất hiện; từ cái chết, sự sống trổ sinh. Sự chuyển tiếp từ đêm tối sang ánh sángđặc trưng của mùa đông; cuộc chuyển tiếp từ cái chết sang sự sống đặc trưng cho mùa hè. Năm phụng vụ của Giáo hội cũng được chia thành hai giai đoạn có những đặc điểm tương tự.[1]

Nói cách khác, thiên nhiên và các mầu nhiệm cứu độ luôn tương hợp với nhau. Màu tím sẫm trong Mùa Vọng hòa hợp tuyệt vời với ánh nắng yếu dần vào cuối năm, và trong Mùa Chay, màu tím lại tương hợp với sự trầm lặng của sự sống trong mùa đông trước khi bước sang mùa xuân. Chúng ta thấy có sự tương đồng ở hai trường hợp: như bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng vào tiết Đông chí và cái chết nhường chỗ cho sự sống vào đầu mùa xuân, màu tím của Mùa Vọng cũng nhường bước cho màu trắng rực rỡ của niềm vui Giáng Sinh, và [màu tím] của Mùa Chay mở lối cho ánh sáng của sự sống Phục Sinh. Ai đó có thể tự hỏi: “Vậy chẳng phải màu đen sẽ thích hợp hơn để diễn tả bóng tối và sự chết sao?”. Ở đây, chúng ta lại gặp thấy sự khôn ngoan của Giáo hội! Màu đen là sự vắng bóng của mọi màu sắc và ánh sáng. Nhưng là “con cái của ánh sáng”, chúng ta không bao giờ hoàn toàn chìm trong bóng tối. “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.”[2] Ngay cả trong các thánh lễ an táng, nơi linh mục có thể mặc lễ phục đen tượng trưng cho tang chế, phụng vụ vẫn nói về ánh sáng: “Xin ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên họ [các linh hồn].” Màu tím là màu tối và diễn tả tâm tình thống hối, nhưng đồng thời cũng là màu cổ xưa tượng trưng cho vương giả và giàu sang. Nhờ phép Rửa, chúng ta được dìm vào trong Ánh Sáng và Sự Sống, và được trao vương quyền làm con cái của Vua Thiên Đàng! Vì vậy, màu tím diễn tả cách trọn vẹn cả hai khía cạnh: bóng tối và vương quyền.

Với bối cảnh đầy tính biểu tượng này, chúng ta có thể hiểu được màu hồng của Chúa nhật Gaudete và Laetare, cũng như bài học ẩn giấu trong đó. Màu hồng là màu tím làm dịu đi, nó là màu tím pha trộn với màu trắng. Theo nghĩa này, màu hồng báo trước màu trắng tinh tuyền của lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh [của Chúa Kitô], gợi lên mầu nhiệm “đã có, và đang đến” của đời sống Kitô hữu. Đấng Mêsia đã đến. Chúng ta đã được cứu chuộc, tẩy rửa và thánh hóa. Ánh sáng là Thiên Chúa đã đến cư ngụ trong tâm hồn chúng ta. Chúa Cha “đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.”[3] Tuy nhiên, chúng ta vẫn chờ đợi Chúa Kitô đến, chờ đợi sự sống đời đời và (chờ đợi) “sự cứu chuộc thân xác chúng ta.”[4] Chúng ta vẫn đang ở trong “lũng đầy nước mắt.” “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt.”[5]

Nhưng ngay cả trong đêm tối của cuộc đời, niềm mong đợi này vẫn tràn ngập niềm vui. Chúa nhật Gaudete và Laetare diễn tả việc nếm trước những điều tốt đẹp sẽ đến mà ngay lúc này chúng ta đang trải nghiệm. Giáo Hội kêu gọi chúng ta “anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”[6] Theo nghĩa này, Chúa nhật Laetare như một ốc đảo giữa sa mạc Mùa Chay, và Chúa nhật Gaudete giống như sự xuất hiện của những tia hừng đông đầu tiên trong đêm Mùa Vọng. Như những người lính canh đêm, chúng ta trông chờ mặt trời ló dạng, hân hoan đón nhận những tia sáng đầu tiên. Với lời Thánh Vịnh 130, chúng ta cầu nguyện: “Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông.”[7] Và với [lời của] ngôn sứ Khabacúc, chúng ta quyết tâm: “Tôi sẽ ra đứng ở chòi canh, đứng gác trên tường lũy canh chừng xem Người nói với tôi điều gì.”[8]

Sự mong chờ

Vậy, chúng ta đang chờ đợi điều gì? Chúng ta đang chờ Đấng đã phán: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.”[9] Thánh Bênađô thành Clairvaux giải thích rằng: “Chúng ta biết có ba lần Chúa đến. Lần thứ ba ở giữa hai lần kia. Hai lần kia thật là rõ ràng, còn lần thứ ba ở giữa thì không […] Lần đầu, Người đến mang xác phàm và phận mỏng manh của chúng ta; lần giữa, Người đến với thần khí và sức mạnh; còn lần cuối, Người đến trong vinh quang và oai hùng.”[10] Trong Mùa Vọng, theo một nghĩa nào đó, chúng ta vui mừng và hy vọng chờ đợi cả ba lần [Chúa đến]. Chúng ta hãy đặt mình, một cách huyền nhiệm, vào vị trí của các ngôn sứ xưa khi họ chờ đợi Đấng Mêsia đến, để từ đó hiểu sâu sắc hơn sự khác biệt khi Chúa Kitô đến. Chúng ta cũng mong đợi trong bóng tối của cuộc sống này để chờ Con Người “đang ngự giá mây trời mà đến.”[11] Nghĩa là, chúng ta khơi dậy niềm khao khát cuộc quang lâm và sự hoàn tất hành trình cuộc đời ta hướng về Thiên Chúa. Sau cùng, chúng ta chờ đợi Chúa Kitô tiến sâu hơn vào cuộc sống hiện tại của mình, như sự chuẩn bị cho lần đến cuối cùng. Thánh Bênađô giải thích rằng lần đến ở giữa này là con đường từ lần đến đầu tiên tới lần đến cuối của Đấng Cứu Thế.

Mùa Vọng là thời gian dành riêng cho con đường ấy. Việc Chúa gần đến được loan báo cho chúng ta ngay từ đầu Mùa Vọng: “Đấng Cứu Độ chúng ta sắp đến.”[12] Đến Chúa nhật Gaudete, lời loan báo càng trở nên khẩn thiết hơn khi đổi thành: “Chúa đã đến gần.”[13] Cũng như màu hồng đang tiến gần đến màu trắng, thì giữa Mùa Vọng, chúng ta cũng hân hoan đến gần Chúa. Chúng ta gần Chúa hơn bao giờ hết: “Vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo.”[14] Và đây là điểm mấu chốt: chúng ta không chỉ vui mừng về sự quang lâm của Chúa [Kitô]; mà còn vui mừng ngay lúc này vì có cơ hội để Chúa Kitô đi sâu hơn vào tâm hồn chúng ta. Trong Mùa Vọng, Chúa Thánh Thần muốn mở rộng cửa lòng chúng ta nhiều hơn cho Đấng Cứu Độ: “Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên; cao lên nữa hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào.”[15] Vì, “đường người công chính tựa ánh bình minh, rực rỡ thêm cho đến hồi chính ngọ.” “Tất cả chúng ta mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa, đang được biến đổi nên giống như Ngài, từ vinh quang này đến vinh quang khác; vì điều này đến từ Chúa, là Thần Khí.”[16] Trong cuộc sống, không gì quan trọng cho bằng lớn lên trong ánh sáng tình yêu thần linh trong Chúa Kitô. Và không gì có thể mang lại cho chúng ta niềm vui lớn hơn thế.

Niềm vui, Kiên cường và Kiên nhẫn

Mẹ Giáo hội biết con cái mình dễ bị phân tâm bởi “những lo toan của thế gian”[17] và quá buồn phiền vì những thử thách của cuộc sống. Chính vì vậy, Giáo hội khơi dậy nơi chúng ta niềm vui trong bài Ca Nhập Lễ Chúa nhật Gaudete, trích từ thư thánh Phaolô gửi tín hữu Philipphê: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: Vui lên anh em! Chúa đã gần đến.” “Đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em hãy đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.” Tất cả chúng ta có thể suy ngẫm: Tôi đã lo lắng thái quá về những lo toan cuộc sống như thế nào? Tôi đã để tuyệt vọng và tự thương hại lấn át niềm hy vọng của mình ra sao? Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy những đường lối của Nước Trời qua lời Ngài, để như Ngài đã nói, “niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.” Khi Ngài tiến gần Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh, Ngài cũng đã phán: “Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.”[18] Hơn nữa, Ngài trấn an chúng ta: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng cam đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.”[19] Chúa nhật Gaudete là thời điểm thích hợp để xét xem chúng ta tự do như thế nào khi đón nhận niềm vui Chúa đến trong cuộc sống chúng ta một cách trọn vẹn hơn.

Nhưng chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh để đón lấy niềm vui này ở đâu? Các bài đọc Thánh lễ Chúa nhật Gaudete năm A đề cao hai nhân đức đặc biệt hầu giúp chúng ta có được niềm vui của Chúa cách trọn vẹn hơn. Trong bài đọc I, ngôn sứ Isaia thúc giục chúng ta hãy can đảm: “Hãy làm cho những bàn tay rã rời nên mạnh mẽ, cho những đầu gối bủn rủn được vững vàng… Can đảm lên, đừng sợ!” Trong bài đọc II, thánh Giacôbê khuyên chúng ta hãy kiên nhẫn: “Cứ kiên nhẫn… cho tới ngày Chúa quang lâm.”

Cả hai nhân đức đều hữu ích cho chúng ta trong thời gian thử thách. Thử thách theo năm tháng có thể khiến chúng ta trở nên thờ ơ, tự mãn và nản lòng. Việc rèn luyện đức tính kiên cường mang lại cho chúng ta sức mạnh để chịu đựng những lúc đau khổ, mất mát, buồn bã và căng thẳng trong các mối tương quan. Khi nỗi đau dường như quá sức chịu đựng của con người, Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta ơn kiên cường để “tiến lên,”[20] để rồi có thể hiểu như Thánh Phaolô: “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”.[21] Ngược lại, sự kiên nhẫn có thể được hiểu là “sự kiên cường theo thời gian”. Thánh Giacôbê đã khéo léo liên kết sự kiên nhẫn với việc chờ đợi vượt qua khó khăn. Sự chờ đợi này bao gồm việc buông bỏ nỗ lực làm chủ những gì nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta và [bao gồm cả] việc vui vẻ chấp nhận [sự buông bỏ đó], xem đó như là ý muốn của Chúa, điều mà cuối cùng luôn vì lợi ích của chúng ta.

Sự dũng cảm và kiên nhẫn là liều thuốc chữa lành sự thờ ơ và lo lắng. Chúng giúp chúng ta có được niềm vui trong thập giá. Chúng ta không thể tự mình có được những nhân đức ân phúc này. Nhưng như trong bài Tin mừng, Đấng Mêsia là Đấng có thể mở mắt người mù và chữa lành người phong hủi, thì Ngài cũng là Đấng có thể chữa lành sự tự mãn và thiếu kiên nhẫn của chúng ta, và ban cho chúng ta sức mạnh để chờ đợi Ngài trong những lúc thử thách. Bằng cách này, Chúa chữa lành chúng ta khỏi sự chán nản và mở ra niềm vui ngày giáng sinh của Ngài.

Khi bóng tối càng dày đặc hơn vào cuối năm, chúng ta biết rằng ánh sáng sẽ chiến thắng. Chúa Kitô đã đến, và Ngài đang đến. Với niềm vui, sự kiên cường và kiên nhẫn, chúng ta tiếp tục trông chờ ánh sáng đang đến. Trong lễ phục màu hồng và với ngọn nến hồng nơi vòng hoa Mùa Vọng, chúng ta vui mừng mong đợi ngày mình được cứu chuộc. Chúng ta lo lắng về điều gì? Thánh Phêrô khuyên nhủ chúng ta: “Mọi lo âu, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em. Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức.”[22] Chúng ta hãy trút gánh nặng vào Chúa, để “Vầng Đông từ chốn cao vời viếng thăm,”[23] và thấm đẫm trái tim chúng ta hơn. Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, xin cầu cho chúng con. Xin giúp chúng con đón nhận Chúa. Maranatha! “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!”[24]

 

----------------------------------------------

[1] Parsch, Dr. Pius. The Church's Year of Grace. Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, 1962, p.169

[2] Ga 1,5 (ND: Tất cả trích đẫn Kinh Thánh đều lấy từ ấn bản Kinh Thánh 2011 của Nhóm CGKPV)

[3] Cl 1,13-14

[4] Rm 8,23

[5] 1Cr 13,12

[6] Lc 21,28

[7] Tv 130,6

[8] Kb 2,1

[9] Ga 8,12

[10] Các giờ Kinh Phụng vụ - Tập 1 (Bài đọc 2 Giờ kinh Sách Thứ Tư sau Chúa nhật I Mùa Vọng).

[11] Đn 7,13

[12] Trích bài Ca Nhập Lễ của Thứ Hai sau Chúa Nhật I Mùa Vọng.

[13] Trích bài Ca Nhập Lễ Chúa Nhật III Mùa Vọng.

[14] Rm 13,11

[15] Tv 24,7

[16] 2Cr 3,18

[17] Mt 13,22

[18] Ga 16,22

[19] Ga 16,33

[20] Xh 14,15

[21] 1Cr 12,10

[22] 1Pr 5,7

[23] Lc 1,78

[24] Kh 22,20