CẢM NGHIỆM VỀ BÀI THƠ “SỞ NGUYỆN” CỦA THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG
QUA GÓC NHÌN ĐỐI THOẠI GIỮA “CÕI NGƯỜI TA” TRONG TRUYỆN KIỀU VÀ KHÁI NIỆM “DAS MAN” TRONG TRIẾT HỌC HEIDEGGER
***
Đôi nét về tiểu sử của thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương
Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương (bút danh Thế Tâm) sinh ngày 24/09/1925, trong một gia đình danh gia vọng tộc, thuộc dòng họ Nguyễn ở xã An Hòa Thịnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889 - 1954), vị quan nổi tiếng thanh liêm dưới triều Nguyễn. Mẹ là một người phụ nữ “đoan trang mà cởi mở, nghiêm nghị mà tinh tế, tháo vát mà khoan thai, đĩnh đạc”. Thầy từng học tại trường Thiên Hựu ở Huế, nơi có cơ hội tiếp xúc với môi trường giáo dục Công giáo. Có thời gian, Thầy còn trọ học tại Chùa Linh Quang và học hỏi nơi các vị cao tăng. Nhờ đó, tâm hồn và tư tưởng của Thầy được hình thành từ nhiều nguồn mạch phong phú: thấm nhuần Nho giáo, bàng bạc tư tưởng Lão - Trang, đậm đà Phật học, đồng thời được nuôi dưỡng bởi truyền thống văn hóa gia đình, quê hương và dân tộc Á Đông.
Những tinh hoa ấy như một động lực thúc đẩy chàng trai Nguyễn Khắc Dương, với một trái tim nhân ái và khối óc luôn khao khát đi tìm chân lý đến với Kitô giáo. Năm 1949, tại Nhà thờ Giáo xứ Nghĩa Yên, Thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội với tên thánh Stêphanô. Về sau, Thầy gia nhập Dòng Phanxicô. Tuy nhiên, sau một thời gian dài sống đời tu trì, nhận ra rằng Chúa muốn mình sống giữa đời với tư cách một người làm chứng cho Tình yêu và hiến thân trọn vẹn cho Chúa mà không màng đến danh hiệu, Thầy xin ra khỏi dòng và chọn lối sống như một cư sĩ.
Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương từng là Chủ nhiệm Khoa Văn - Triết học, Trường Đại học Đà Lạt trong những năm 1965 - 1975. Thầy được biết đến như một người có công lớn trong việc đào tạo nhiều thế hệ trí thức cho Giáo hội và xã hội. Khi tuổi đã xế chiều, Thầy chọn Tu Đoàn Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ làm nơi định cư và qua đời tại đây ngày 28 tháng 09 năm 2026.
***
“SỞ NGUYỆN” - Hành trình của một hành giả đi tìm chân lý
Khi nói về “triết gia” chắc hẳn có nhiều định nghĩa khác nhau qua từng giai đoạn của lịch sử tư tưởng, nhưng nếu hiểu triết gia là người yêu mến và không ngừng tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương quả là một triết gia đúng nghĩa. Cuộc đời Thầy là một hành trình dài đi tìm chân lý, để rồi rời khỏi thế gian như một người đã trải nghiệm sâu xa và thấu hiểu phần nào lẽ đời. Thầy đã sống trọn vẹn kiếp người, đúng như những câu thơ Nguyễn Du từng viết:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
“Cõi người ta” trong câu thơ Nguyễn Du, trước hết, là thế giới con người đang sống, đồng thời cũng lời nơi phải đối diện với chính mình trong những nghịch cảnh, những trạng huống khác nhau của kiếp nhân sinh. Từ “Trăm năm” ở đây không chỉ gợi lên giới hạn của một đời người, mà còn mở ra một thế giới đầy nghịch lý, nơi số phận dường như được định sẵn, nơi tài hoa và hạnh phúc, ước mơ và thực tại, thường tỉ lệ nghịch với nhau. Đặt con người trong “cuộc bể dâu”, Nguyễn Du như muốn gợi lên những biến động khiến hoàn cảnh và số phận có thể đổi khác. Còn câu “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” cho thấy cái nhìn của Nguyễn Du không dừng ở việc quan sát cuộc đời, nhưng còn thấm đẫm lòng trắc ẩn trước những đoạn trường của nhân sinh. Bởi thế, “cõi người ta” không phải là không gian bất biến nhưng nó luôn vận động giữa những thịnh suy của thời cuộc, giữa những hợp tan và được mất. Những gì tưởng chừng như hôm nay có thể vững chắc nhưng mai này rồi sẽ đổi thay. Kiếp người vốn hữu hạn lại càng trở nên mong manh trước sức mạnh của thời gian và những biến cố.
Bên cạnh cách nhìn nhân sinh của Nguyễn Du, có thể đặt “cõi người ta” trong cuộc đối thoại gợi mở với khái niệm “das Man” của Martin Heidegger, thường được diễn giải bằng từ “người ta”. Tuy nhiên, hai cách nói này không đồng nghĩa về mặt triết học. “Cõi người ta” của Nguyễn Du chủ yếu gợi ra thế giới và thân phận con người giữa thời gian, biến cố và đau khổ; còn “das Man” của Heidegger chỉ cách con người thường sống theo những quan niệm, thói quen và kỳ vọng vô danh của số đông: người ta nghĩ thế, người ta làm thế, người ta cho rằng như thế mới là thành công. Trong nhịp sống ấy, con người có thể dần đánh mất khả năng tự hỏi mình thật sự tin điều gì và mình muốn sống thế nào. Heidegger không chủ trương rằng mọi quy ước xã hội đều xấu, cũng không khuyên phải tách mình khỏi cộng đồng. Điều ông gợi ra là mỗi người cần nhận lấy trách nhiệm về sự hiện hữu và những lựa chọn của chính mình, thay vì hoàn toàn phó mặc đời mình cho cái “người ta” vô danh.
Hiện hữu trong “cõi người ta”, Thầy Nguyễn Khắc Dương đã đi qua một hành trình sống và truy tầm sự khôn ngoan của nhân loại, để rồi gặp được Chân Lý vẹn toàn nơi niềm tin vào Đức Kitô. Nơi thầy, triết học không chỉ là một hệ thống tư tưởng nhưng còn là một nghệ thuật sống. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, Thầy chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Nho gia. Khi trưởng thành, Thầy có cơ hội tiếp xúc với Phật học, tìm hiểu triết học Tây phương rồi gắn bó với việc giảng dạy triết học. Có thể nói, nơi Thầy có một sự giao hòa đặc biệt giữa những dòng tư tưởng Đông và Tây.
Thầy đã đứng trước ngưỡng cửa Kitô giáo với một hành trang tư tưởng phong phú như thế, để rồi khi tiếp xúc và tìm hiểu đạo Công giáo, Thầy từng chia sẻ: “Nho Giáo là một tôn giáo dành cho người tri thức, sống thanh cao và sống ‘trên’ người khác; không dành cho người bình dân. Phật Giáo thì quan niệm rằng Đời Là Bể Khổ, nên phải tránh Đời, tự bản thân tìm sự giải thoát cho riêng mình. Còn Kitô giáo thì ngược lại, Chúa Giêsu vốn là Con Thiên Chúa nhưng đã bước vào đời, sống như một người nghèo, chia sẻ thân phận làm người của con người, vui niềm vui của con người, đau nỗi đau của phận người và yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người… Đây là một tôn giáo gần với con người, gắn liền với con người, là đạo của tình yêu…” Qua lời chia sẻ ấy, có thể thấy Thầy đã mang theo một gia sản tư tưởng Á Đông bước vào Đạo và sống ơn gọi Kitô hữu bằng cả lý trí, ý chí và tự do.
Ngoài việc giảng dạy triết học, Thầy còn là một dịch giả và một nhà thơ. Trong suốt cuộc đời, thầy có nhiều đóng góp cho văn học. Trước đây, người viết chỉ nghe biết về Thầy như một bậc lão thành trong lĩnh vực triết học, một người Thầy của nhiều Giám mục, Linh mục tại Việt Nam. Khi Thầy qua đời, bài thơ “Sở Nguyện” được nhiều nguồn trích đăng lại như một bản tóm về cuộc đời và tư tưởng của Thầy. Lần đầu tiên đọc bài thơ này, người viết đã được chạm tới chiều sâu của một tác phẩm văn chương. Nơi câu từ dường như không bị gò bó trong những quy luật cố định của thể thơ thất ngôn bát cú, nhưng toát lên những giá trị nhân sinh rất chân thật và sâu sắc. Dưới lăng kính của một người trẻ đam mê văn chương, người viết xin mạn phép chia sẻ đôi điều cảm nghiệm về bài thơ này qua góc nhìn đối thoại giữa “cõi người ta” trong Truyện Kiều và khái niệm “Das Man” trong tư tưởng triết học Heidegger. Đặt hai cách nhìn cạnh nhau, người viết không có ý so sánh hai quan niệm theo cái nhìn triết học, nhưng xem chúng như những khía cạnh gợi mở để bước vào hành trình của thầy Nguyễn Khắc Dương trong bài thơ “Sở Nguyện”.
“Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,
Tấm thân đất chở với trời che.
Cảm người bươn chải vòng cơm áo,
Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe.
Trần sắc mười phương đau đớn thấy,
Thế âm bốn cõi xót xa nghe.
Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,
Nguyện lót êm chân khách vỉa hè.”
Và như một lời tâm nguyện nối dài bài thơ, Thầy viết thêm hai câu kết thật đẹp và đắt giá:
“Công tội trông nhờ cây khổ giá,
Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.”
Bài Sở Nguyện được viết theo thể thất ngôn bát cú, có cấu trúc chặt chẽ, bố cục rõ ràng với những cặp từ đối xứng rất đẹp. Bên cạnh đó, Thầy còn sử dụng nhiều hình ảnh gợi mở chiều sâu mỹ học cũng như triết học. Tám câu thơ đưa người đọc đi từ hình ảnh một hành giả dừng chân bên đường, đến nỗi nhọc nhằn của nhân gian, rồi từ đó ý thức mình sẽ về cát bụi và gửi lại một ước nguyện khiêm nhường. Hai câu tiếp theo được viết thêm như mở ra chiều sâu đức tin Kitô giáo, nơi tác giả ký thác đời mình trong giá máu cứu chuộc của Chúa Giêsu và lòng từ mẫu của Đức Maria. Xuyên suốt bài thơ là một chuyển động đáng chú ý: từ nhận thức về thân phận hữu hạn đến lòng thương người, rồi từ lòng thương ấy đến một chọn lựa sống và một thái độ phó thác.
Trước hết, Thầy tự nhận mình là một “hành giả” khi viết: “Hành giả dừng chân tạm vỉa hè.” Chỉ hai chữ “hành giả” cũng đủ gợi lên hình ảnh một con người đang bước đi trên con đường lữ hành trần thế. Ngay từ câu thơ đầu tiên, Thầy đã cho thấy một cái nhìn rất rõ về cuộc đời và phận người. Thầy không xem cuộc đời như một bến đỗ cuối cùng nhưng như một điểm dừng chân tạm thời; còn dừng bao lâu hoàn toàn không do con người quyết định. Hình ảnh “vỉa hè” càng làm nổi bật tính chất bình dị và tạm bợ của cuộc sống. Ngang qua cõi hồng trần, con người giống như một lữ khách tạm nghỉ bên đường rồi lại tiếp tục bước đi đến nơi mình thật sự thuộc về.
Ở đây, câu thơ gặp gỡ với lời mở đầu của Truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta”. Nếu Nguyễn Du nhấn mạnh đời người có giới hạn giữa những biến động khôn lường trong cõi người ta, thì hình ảnh “hành giả dừng chân tạm vỉa hè” trong Sở Nguyện cô đọng ý thức ấy vào một khoảnh khắc cụ thể. Con người không thể biến cuộc đời thành một nơi sở hữu vĩnh viễn. Xét cho cùng, cõi người ta cũng chỉ là một “vỉa hè” ở góc độ nào đó, nơi con người hiện diện nhưng không ai ở lại mãi mãi. Nhìn từ Heidegger, ý thức về tính hữu hạn giúp con người không xem những thói quen và thang giá trị của số đông là điều hiển nhiên, để tự hỏi mình đang đi đâu và điều gì thực sự đáng theo đuổi. Hành giả dừng chân không phải để trốn khỏi cuộc đời, nhưng như thể để nhìn lại hành trình mình đang đi.
Sang câu thứ hai, “Tấm thân đất chở với trời che”, Thầy đặt cuộc đời của hành giả trong một thực tại rộng lớn hơn, nơi con người là một phần của trời đất và tự nhiên. “Tấm thân” nhấn mạnh thực tại cụ thể; con người là một hữu thể có thân xác, thuộc về thế giới tự nhiên, cần được nuôi dưỡng và luôn chịu những giới hạn của thời gian. Hình ảnh “đất chở”, “trời che” gợi lên sự nương tựa của con người vào những điều vượt quá khả năng kiểm soát của chính mình. Con người không ở trong thể giới như một một hữu thể biệt lập nhưng hiện hữu trong tương quan với thế giới đã có trước mình, với tha nhân và với những thực tại vượt quá trí hiểu của mình. Câu thơ gợi lên nét tư tưởng Á Đông về mối liên hệ giữa thiên - địa - nhân. Trong nhãn quan Kitô giáo việc con người được đất chở, trời che có thể được cảm nhận như dấu chỉ của ân ban và sự quan phòng. Chiều sâu ấy cũng giúp ta liên tưởng tới Heidegger. Con người luôn hiện hữu trong một thế giới và trong những mối tương quan cụ thể. Vấn đề không phải là phủ nhận cộng đồng hay phủ nhận những điều mình thừa hưởng nhưng là nhận ra vị trí của mình trong thế giới ấy và tự chịu trách nhiệm về cách mình sống. Ý thức mình chỉ là một con người hữu hạn giúp hành giả sống thanh thoát hơn, không tìm cách nắm giữ mọi sự cho riêng mình.
“Cảm người bươn chải vòng cơm áo,
Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe.”
Hai câu thơ này thật gần với giá trị nhân đạo của ca dao Việt Nam khi nói về những lao đao vất vả của kiếp người tìm kế mưu sinh:
“Thương thay thân phận con tằm
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ
Thương thay lũ kiến li ti
Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi”
Từ góc nhìn ấy, hai câu tiếp theo trong bài Sở Nguyện mở ra một chiều kích nhân học sâu sắc hơn. Hành giả không đứng ngoài cuộc đời, cũng không đứng trên cao để quan sát con người, nhưng nhìn thấy những nhọc nhằn của đời sống thường nhật. “Cơm áo” gợi lên những nhu cầu thiết yếu mà con người phải lo toan. Những từ “bươn chải”, “bôn ba” diễn tả nhịp sống tất bật, đôi khi khiến người ta mệt mỏi mà không thể dừng lại. Hai chữ “cảm” và “thương” không chỉ diễn tả một cảm xúc, nhưng cho thấy tác giả đang cố gắng hiểu và chia sẻ thân phận của muôn kiếp nhân sinh. Đây là điểm gặp gỡ rõ nét với câu thơ của Nguyễn Du: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Trước những điều xảy ra trong cõi người ta, có người chỉ quan sát rồi đi qua, nhưng cũng có người để những gì mình thấy chạm đến lòng mình. Nguyễn Du nhìn những phận đời đoạn trường bằng niềm cảm thương; hành giả trong Sở Nguyện cũng không coi nỗi nhọc nhằn của người khác là chuyện xa lạ. Càng đi sâu vào hành trình tìm kiếm chân lý, Thầy Stêphanô càng không xa rời con người, nhưng càng ý thức rằng chân lý không phải điều gì cao siêu mà luôn có liên hệ với cách ta nhìn và đối xử với từng phận người cụ thể.
Hai câu thơ trên cũng mở ra một cuộc đối thoại với “Das Man” của Heidegger. Trong đời thường, con người dễ bị cuốn vào những đòi hỏi chung của số đông: phải kiếm tiền, phải thành đạt, phải có địa vị, phải sống theo điều xã hội xem là đáng giá. Bản thân việc lao động hay lo cơm áo không phải là điều tiêu cực nhưng đôi khi quá tất bật với vòng xoáy ấy khiến người ta không còn nhìn thấy người đang vất vả ngay bên cạnh. Hành giả trong bài thơ vẫn nhìn thấy nhịp đời bôn ba, nhưng không để mình bị cuốn hoàn toàn vào nó. Thầy dừng lại, cảm và thương. Chính khoảnh khắc ấy mở ra khả năng sống khác với “người ta”, với cái gọi là “đám đông vô danh”.
Từ đây hành giả mở rộng tầm nhìn, không dừng lại ở một vài thân phận trước mắt, Thầy còn nhìn thấy nổi đau chung của triệu triệu phận người.
“Trần sắc mười phương đau đớn thấy,
Thế âm bốn cõi xót xa nghe.”
Tầm nhìn của hành giả giờ đây mở rộng đến “mười phương”, “bốn cõi”- một cái nhìn mang đậm dấu ấn Đông Phương. Trong đó tư tưởng Phật giáo hòa quyện với văn hóa Việt Nam. Qua cái nhìn ấy, hành giả tự đặt mình trong tương quan với tất cả mọi người. “Thấy” và “nghe” là hai cách tiếp nhận thế giới, nhưng các động từ “đau đớn” và “xót xa” cho thấy sự nhận biết ấy không hề lạnh lùng. Hành giả không chỉ biết rằng đau khổ là một thực tại phổ quát của đời sống con người, nhưng để cho nỗi đau ấy tác động đến tâm hồn mình. Nỗi khổ của nhân gian không xa lạ mà trở thành điều khiến con người phải suy nghĩ và đáp lời. Ở đây, ta có thể liên tưởng đến lời của thánh Phaolô “Vui với người vui, khóc cùng người khóc” (Rm 12, 15).
Một lần nữa, chúng ta nghe âm vang của Nguyễn Du: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Điểm gặp nhau giữa hai tác giả không nhất thiết nằm ở tư tưởng giống hệt nhau, nhưng ở khả năng nhìn vượt qua bề mặt của sự việc để nhận ra nỗi đau của phận người. Nguyễn Du gửi lòng thương vào những thân phận bị vùi dập bởi nghịch cảnh; còn hành giả trong Sở Nguyện hướng cái nhìn và sự lắng nghe đến nỗi đau rộng khắp nhân gian. Cả hai đều cho thấy lòng thương người không cho phép ta dửng dưng trước đau khổ của tha nhân.
Đặt cạnh Heidegger, hai câu thơ này còn gợi một câu hỏi về sự hiện diện của tha nhân trong đời sống của mỗi người. Khi sống theo cái “người ta” vô danh, con người dễ nhìn người khác qua những nhãn hiệu chung: thành công hay thất bại, giàu hay nghèo, hữu ích hay vô dụng. Nhưng “đau đớn thấy” và “xót xa nghe” đòi một cái nhìn nơi mỗi con người cụ thể. Dẫu không thể gán trực tiếp cho Heidegger một học thuyết đạo đức như thế, khái niệm “Das Man” cũng giúp chúng ta nhận ra nguy cơ để dư luận và lối nhìn của cộng đồng có thể che khuất tính độc đáo của mỗi người. Bài thơ Sở Nguyện đã đáp lại nguy cơ ấy bằng một tâm hồn còn biết nhìn, biết nghe và biết rung động.
Vì thế, hành trình đi tìm chân lý trong Sở Nguyện không phải là hành trình chạy trốn cuộc đời. Trái lại, chân lý càng sâu thì lòng người càng mở rộng; sự hiểu biết càng chín chắn thì trách nhiệm trước nỗi đau của tha nhân càng trở nên rõ ràng. Nơi đây, chúng ta có thể nhận ra sự gặp gỡ giữa lòng từ bi trong truyền thống Phật học và lòng thương xót trong Kitô giáo. Hai nguồn mạch tư tưởng ấy gặp nhau nơi một điểm chung: tình thương đối với con người đang đau khổ.
Để kết thúc bài thơ thất ngôn bát cú, thầy viết:
“Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,
Nguyện lót êm chân khách vỉa hè.”
Sau khi suy tư về hành trình của người hành giả, Thầy đặt mình trước quy luật tất yếu của phận người. Thầy không trực tiếp nói đến cái chết nhưng diễn tả bằng một hình ảnh rất thi vị và một câu hỏi còn bỏ ngỏ: “Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể?” Chữ “bao giờ” diễn tả ý thức rất rõ của hành giả về giới hạn của kiếp người. Con người không thể tự quyết định về sự sống và cái chết. Đời sống nằm trong một thực tại lớn hơn chính mình. Đối với tín hữu Kitô giáo, ý thức ấy không dẫn đến tuyệt vọng nhưng mở ra niềm phó thác. Con người được dựng nên từ bụi đất và sẽ trở về với bụi đất, nhưng sự trở về ấy không phải là một cuộc rơi vào hư vô. Trong ánh sáng đức tin, đó có thể được hiểu như một cuộc trở về với Đấng đã dựng nên mình. Chính nơi đây, bài thơ một lần nữa gặp ý thức về kiếp người trong Nguyễn Du: giữa những biến động của cõi đời, không ai có thể nắm giữ sự sống trong tay mãi mãi.
Câu thơ cũng có thể được soi sáng bởi tư tưởng Heidegger về hiện hữu hướng đến cái chết. Ý thức về cái chết không nhất thiết dẫn đến bi quan; trái lại, khi nhận ra thời gian của mình có giới hạn, con người có cơ hội nhìn lại điều gì thật sự quan trọng và sống có trách nhiệm hơn với những lựa chọn của mình. Tuy nhiên, cần phân biệt: Heidegger giúp chúng ta hiểu ý nghĩa hiện sinh của việc đối diện với cái chết, còn niềm hy vọng rằng trở về cát bụi là cuộc trở về với Đấng Tạo Hóa thuộc về đức tin Công giáo của tác giả và không thể đồng nhất với lập trường triết học của Heidegger.
Tác giả không kết thúc bằng một tiếng thở dài hay sự buông xuôi, nhưng bằng lời ước nguyện: “Nguyện lót êm chân khách vỉa hè”. Cấu trúc bài thơ lúc này tạo thành một vòng tròn khép kín. Ở câu đầu, hành giả dừng chân trên vỉa hè; ở câu cuối, hành giả nguyện trở thành một hạt bụi lót chân người lữ hành khác. Điểm dừng ban đầu là nơi ý thức về thân phận; điểm dừng cuối cùng là nơi thân phận ấy được trao ban cho tha nhân.
“Nguyện lót êm chân” là một hình ảnh khiêm nhường. Thầy không mong mình trở thành một nhân vật lớn lao trong mắt thiên hạ, cũng không mong để lại một tượng đài cho riêng mình. Thầy chỉ mong trở nên một điều nhỏ bé, âm thầm, có ích cho những người đang tiếp tục cuộc lữ hành. Ước nguyện ấy đảo ngược những thước đo thông thường của thành công. Trong khi cái “người ta” của đời thường dễ thúc đẩy con người tìm kiếm địa vị và sự công nhận, hành giả chọn một lý tưởng không đặt mình ở trung tâm, nhưng hướng đến sự nâng đỡ người khác.
Đến đây, bài thơ tưởng như đã trọn vẹn về ý nghĩa lẫn giá trị văn chương. Thế nhưng, hai câu thơ tiếp theo mở ra chiều sâu đức tin của Thầy:
“Công tội trông nhờ cây khổ giá,
Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.”
Nếu tám câu đầu diễn tả thân phận con người, nỗi đau của nhân gian, ý thức về cái chết và ước nguyện sống cho người khác, thì hai câu này cho thấy điểm tựa cuối cùng của đời hành giả. “Công tội” bao gồm những điều tốt đẹp đã làm, những thiếu sót và những sai lầm của một đời người. Thầy không xem mình là người đã đạt đến sự hoàn thiện, nhưng nhìn nhận sự bất toàn của bản thân và đặt niềm hy vọng nơi Thập Giá Đức Kitô.
“Cây khổ giá” gợi nhắc tình yêu tự hiến, lòng thương xót và niềm hy vọng cứu độ trong đức tin Kitô giáo. Chữ “trông nhờ” diễn tả thái độ phó thác: Thầy không phủ nhận trách nhiệm đối sai lỗi trong đời mình nhưng cũng không đặt toàn bộ niềm hy vọng vào công trạng của bản thân. Sau một đời tìm kiếm chân lý bằng lý trí và kinh nghiệm, Thầy trở về với xác tín rằng con người cần được yêu thương và cứu độ.
Nếu Thập Giá là nơi Thầy gửi gắm vận mệnh sau hết của đời mình, thì chuỗi Mân Côi là nơi Thầy ký thác vui buồn của cuộc lữ hành. Hai câu thơ tạo nên một cặp đối xứng đẹp: “công - tội”, “vui - buồn” được đặt song song với “khổ giá - Mân Côi”. Đó là chân trời đức tin riêng làm nên nét đặc thù trong tâm nguyện của thầy.
***
Ngang qua bài thơ “Sở nguyện”, người viết chợt nhận ra một tứ thơ chất chứa niềm hy vọng và một trực giác sâu xa về ý nghĩa cuộc đời. Chính trong sự tạm bợ của kiếp sống, con người lại có thể nhận ra ý nghĩa của hiện hữu. Chính trong giới hạn của phận người, con người lại nhận ra cùng đích mà mình phải hướng về. Chính trong đau khổ, con người lại nhận ra mình không thể sống một mình, nhưng cần đến những mối tương quan và tình liên đới. Có lẽ đó cũng là nét đẹp nhất trong hành trình của Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương. Thầy đã đi qua nhiều truyền thống tư tưởng, tiếp xúc với nhiều nền triết học và tôn giáo, không ngừng truy tìm chân lý bằng lý trí và kinh nghiệm sống nhưng trong bài thơ này, chân dung của Thầy không hiện lên như một người chỉ tích lũy tri thức, mà như một hành giả biết dừng lại trước nỗi đau của tha nhân và mong trở thành điều hữu ích cho người khác. Sau tất cả hành trình ấy đưa Thầy đến với Đức Kitô - Đấng mà thầy nhận ra là Chân Lý và là Tình Yêu đã bước vào chính thân phận con người.
Có thể nói, cuộc đời Thầy đã phần nào diễn tả xác tín của thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2, 20). Thầy đã đi trọn cuộc đời trong hành trình tìm kiếm Chân Lý và cuối cùng trở về với Đấng mà Thầy tin là nguồn mạch và cùng đích của đời mình.
Đến đây bài thơ đã hoàn thành sứ mạng của một tác phẩm văn chương. Thầy Nguyễn Khắc Dương có lẽ đã viết bài thơ ấy cho chính mình, nhưng đồng thời cũng cho tất cả những ai đang trên đường lữ hành. Khi đọc bài thơ Sở Nguyện qua lăng kính đối thoại giữa “cõi người ta” trong Truyện Kiều và khái niệm “Das Man” trong tư tưởng của Heidegger, người viết chỉ muốn dừng lại ở góc nhìn tiếp nhận tác phẩm văn học. Nếu một tác phẩm văn chương thường hướng đến hai giá trị nền tảng “vị nghệ thuật” và “vị nhân sinh” thì qua quá trình tiếp nhận tác phẩm, người đọc được mời gọi thể hiện khả năng “đồng sáng tạo” với tác giả. Thông qua quá trình ấy, tác phẩm không chỉ dừng lại ở bản văn mà có thể bước vào cuộc đời mỗi độc giả.
Với tất cả lòng kính trọng đối với Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, xin dùng mấy câu thơ sau như một lời tạm kết và lời cầu nguyện chân thành cho một cây đại thụ của giới triết học đã khuất núi.
“Xin gửi đây chút lòng sở nguyện
Bậc chân nhân, hành giả Thế Tâm
Lời kinh hòa khói hương trầm
Tiễn người về chốn yên hàn thiên thu.”
Minh Tâm
29/10/2026
28/10/2026
28/10/2026