×

Giỏ hàng

97   2025-12-01 10:24:31

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LINH MỤC Ở HOA KỲ- ĐÀO TẠO NHÂN BẢN

Lm GB Ngô Đình Tiến chuyển ngữ từ:

Program of Priestly  Formation in the United States of America, 6th Edition, 2022, 77-79; 81-87.

Chương trình đào tạo linh mục (Program of Priestly Formation in the United States of America) của Hội đồng Giám mục (HĐGM) Hoa Kỳ, ấn bản thứ 6, được soạn thảo sau khi xem lại ấn bản thứ 5 và dựa trên tài liệu Đào tạo linh mục: Hồng ân ơn gọi linh mục của Bộ Giáo sĩ - 2016. Ấn bản thứ 6 này được HĐGM Hoa Kỳ chấp thuận năm 2019, rồi được Tòa Thánh chuẩn nhận để sử dụng trong 5 năm (confirmatio ad quinquennium) vào ngày 22/3/2022, và được HĐGM Hoa Kỳ ban hành qua Sắc lệnh ký ngày 24/6/2022, để áp dụng tại các chủng viện Hoa Kỳ từ ngày 4/8/2023. Dưới đây là phần chuyển ngữ về Chiều kích nhân bản - đào tạo nhân bản (các trang 77-79, 81-87) của ấn bản này. Các tiêu đề là của người chuyển ngữ.

CHIỀU KÍCH NHÂN BẢN

  1. Việc đào tạo nhân bản cho ứng sinh linh mục nhằm mục đích chuẩn bị họ trở thành những khí cụ hữu hiệu của ân sủng Chúa Kitô. Việc đào tạo này được thực hiện bằng cách nuôi dưỡng sự trưởng thành của một con người, có thể được mô tả theo những cách sau đây:
  2. Con người có tư cách đạo đức vững vàng với lương tâm đạo đức tốt, cởi mở và có khả năng hoán cải: Là người thể hiện những đức tính nhân bản như thận trọng, công bằng, kiên cường, tiết độ, khiêm nhường, khiết tịnh, kiên định, chân thành, kiên nhẫn, cư xử tốt, trung thực và giữ lời hứa, và cũng thể hiện sự trưởng thành khi thực hành những đức tính này.
  3. Con người thận trọng và biết phân định: Là người thể hiện “khả năng quan sát có phê phán” để có thể “phân định những giá trị đúng và sai, vì đây là một yêu cầu thiết yếu để thiết lập một cuộc đối thoại mang tính xây dựng với thế giới ngày nay.”
  4. Con người của hiệp thông: Là người có khả năng tương quan thực sự và sâu sắc, có thể bước vào cuộc đối thoại và tình bạn chân thành, có sự đồng cảm thực sự nghĩa là có thể hiểu biết người khác, là người cởi mở và sẵn lòng với người khác với một tinh thần rộng lượng. Con người của hiệp thông có khả năng hiến tặng bản thân và đón nhận món quà từ người khác. Thực tế, khả năng này đòi hỏi phải làm chủ hoàn toàn bản thân. Cuộc sống này nên là một cuộc sống tràn ngập niềm vui và bình an nội tâm - những dấu hiệu của sự tự chủ và rộng lượng.
  5. Con người giao tiếp tốt: Là người biết lắng nghe, ăn nói lưu loát, có kỹ năng giao tiếp và nói trước công chúng cách hiệu quả.
  6. Con người trưởng thành về tình cảm: Là người có đời sống tình cảm cân bằng, hòa nhập vào tư duy và các giá trị; nói cách khác, là người sống tình cảm nhưng không bị chúng chi phối mà sống tự do và cuộc sống của họ được phong phú nhờ tình cảm. Điều này có thể đặc biệt rõ ràng ở khả năng sống tốt với người có thẩm quyền, khả năng tiếp nhận hướng dẫn từ người khác, và khả năng thực thi tốt quyền bính với đồng nghiệp, cũng như khả năng xử lý hiệu quả xung đột và căng thẳng.
  7. Con người biết tôn trọng, chăm sóc và cảnh giác với cơ thể của bản thân: Là người lưu ý đúng mức đến sức khỏe thể chất của mình (bao gồm cân nặng, tập thể dục, thức ăn, đồ uống, và vệ sinh bản thân), để có đủ năng lượng và sức mạnh hoàn thành các nhiệm vụ được giao phó và tự biết mình để đối mặt với và chống lại cám dỗ một cách hiệu quả.
  8. Con người có tương quan tốt với người khác, không có định kiến, và sẵn sàng làm việc với những người có văn hóa khác biệt: Là người có khả năng xây dựng mối tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới như là những người thân, bạn bè, đồng nghiệp, nhân viên, giáo viên và như là những người gặp gỡ trong các lĩnh vực công tác tông đồ.
  9. Con người quản lý tốt của cải vật chất: Là người có thể sống giản dị và “tránh xa mọi điều phù phiếm”; là người có thái độ đúng đắn đối với của cải thế gian, vì Chúa là phần sản nghiệp và gia sản của họ; là người quảng đại đóng góp từ thiện và giúp đỡ người nghèo.
  10. Con người có thể đảm nhận vai trò người của công chúng: Là người vừa tự tin vào bản thân vừa tin chắc vào trách nhiệm của mình, là người có thể sống không chỉ như một công dân riêng rẽ mà còn là một người của công chúng phục vụ cho Tin Mừng và đại diện cho Giáo hội.

ĐÀO TẠO NHÂN BẢN

  1. Nhìn chung, việc đào tạo nhân bản diễn ra trong một tiến trình ba chiều: tự nhận thức/tự biết mình (self-knowledge), tự làm chủ (self-possession) và tự hiến (self-gift)—và tất cả những điều này diễn ra trong đức tin. Trong tiến trình này con người trở nên đồng hình đồng dạng hơn với nhân tính hoàn hảo của Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Có rất nhiều nguồn lực để thúc đẩy quá trình đào tạo nhân bản này trong bối cảnh chủng viện, bao gồm:

- Hướng dẫn: Cha Giám đốc và các thành viên khác của cộng đoàn chủng viện hướng dẫn việc đào tạo nhân bản cho các chủng sinh qua các cuộc hội họp/gặp gỡ, các khóa học và các phương tiện giáo dục khác.

- Suy ngẫm cá nhân: Các chủng sinh được đào tạo để biết suy ngẫm về cuộc sống và thường xuyên xem xét hành vi, động cơ, khuynh hướng của mình, và cách chung là cách họ tiếp nhận trải nghiệm cuộc sống, nhất là đau khổ.

- Đời sống cộng đoàn và phản hồi: “Một chủng sinh tự do chọn vào chủng viện cũng phải tự do chấp nhận và tôn trọng các quy định của chủng viện.” Những đòi hỏi chung và phần thưởng cuộc sống nơi cộng đoàn mở rộng việc tự nhận thức, tự làm chủ và vun đắp lòng quảng đại trong tinh thần. Việc cộng đoàn gắn bó với Kinh Thánh và đời sống bí tích làm nên tấm gương phản chiếu giúp mỗi cá nhân hiểu biết chính mình và hướng đến một đời sống trọn vẹn hơn, nhân bản hơn, và thiêng liêng hơn. Quy luật sống [các quy định] của cộng đoàn [chủng viện] nuôi dưỡng kỷ luật, sự tự chủ và sự kiên trì trung thành với các cam kết.

- Áp dụng vào các bổn phận của đời sống chủng viện: Việc đào tạo nhân bản phát triển thông qua sự tương tác với người khác trong suốt chương trình học tập tại chủng viện. Ví dụ, sự phát triển này diễn ra khi các chủng sinh học cách chấp nhận thẩm quyền của bề trên, phát triển thói quen “sử dụng tự do một cách thận trọng”, học cách hành động theo sáng kiến ​​riêng và làm việc một cách năng động, cũng như làm việc hài hòa với anh em chủng sinh và với giáo dân.

- Tư vấn tâm lý: Đôi khi, việc tham khảo ý kiến các chuyên viên tâm lý hoặc chuyên viên sức khỏe tâm thần có thể là một công cụ hữu ích cho việc đào tạo nhân bản. Ví dụ, một số hành vi, chẳng hạn đã được hình thành trong lịch sử gia đình của chủng sinh khi còn trẻ, có thể cản trở khả năng tương quan của họ. Việc hiểu biết tiền sử tâm lý của một người và phát triển các chiến lược để giải quyết các yếu tố tác động tiêu cực có thể rất hữu ích trong việc đào tạo nhân bản. Loại tư vấn hoặc tham vấn này khác với liệu pháp tâm lý chuyên sâu, vốn có thể cần thiết để giải quyết các vấn đề cá nhân đã bén rễ sâu, làm cản trở hoạt động đầy đủ của con người đó. Chủng sinh đã hoàn thành việc kiểm tra tâm lý như một phần của quy trình tuyển sinh. Vào thời điểm đó, nếu cần phải có liệu pháp chuyên sâu và kéo dài, thì sẽ được thực hiện bên ngoài chủng viện trước khi có quyết định tuyển sinh. Cũng có trường hợp cần có liệu pháp chuyên sâu như vậy sau khi tuyển sinh. Khi đó, chủng sinh phải tạm rút khỏi chương trình đào tạo và tiếp tục liệu pháp trước khi được xem xét để tái nhập chủng viện và tiếp tục được tiến chức linh mục.

  1. Mỗi chủng viện cần xây dựng “các chuẩn mực/tiêu chuẩn (benchmarks) đào tạo nhân bản” và xác định rõ ràng các chuẩn mực này cho cộng đoàn chủng viện và các chủng sinh.
  2. Kết hợp việc đào tạo nhân bản với ba chiều kích đào tạo khác—thiêng liêng, trí thức và mục vụ—là điều hoàn toàn có thể và cần thiết. Chính nhờ Ngôi Lời nhập thể và nhờ ân sủng xây dựng trên bản tính và hoàn thiện bản tính [con người] mà việc đào tạo nhân bản được kết hợp với việc đào tạo thiêng liêng. Việc đào tạo nhân bản được kết hợp với việc đào tạo trí thức bằng cách trau dồi các chức năng nhận thức, phân tích và phán đoán của con người. Nó cũng góp phần vào việc đào tạo trí thức bằng cách giúp các chủng sinh học thần học như một đáp trả cho các câu hỏi về thân phận con người. Khi được kết hợp với việc đào tạo mục vụ, việc đào tạo nhân bản cho phép một linh mục kết nối và chăm sóc người khác bằng chính nhân cách của mình. Ngược lại, việc đào tạo mục vụ giúp mài giũa các kỹ năng nhân bản và khả năng đồng cảm của linh mục.

TIÊU CHUẨN CỦA ĐÀO TẠO NHÂN BẢN QUA 3 GIAI ĐOẠN Ở CHỦNG VIỆN

GIAI ĐOẠN DỰ BỊ [NĂM TU ĐỨC]

  1. Tự biết mình (self knowledge) và tự nhận thức (awareness) là những chủ đề then chốt trong việc đào tạo nhân bản ở giai đoạn dự bị. Trước khi bắt đầu giai đoạn đào tạo người môn đệ [giai đoạn Triết học], điều quan trọng là chủng sinh, với sự giúp đỡ của các nhà đào tạo, phải có khả năng suy ngẫm về lịch sử bản thân (ví dụ: gia đình, việc sử dụng công nghệ, thói quen cá nhân) và những lĩnh vực cần phát triển của mình.

Các khía cạnh khác của chiều kích nhân bản cần thiết để bắt đầu giai đoạn đào tạo người môn đệ bao gồm các kỹ năng quan hệ (ví dụ: khả năng xây dựng tình bạn lành mạnh và sâu sắc, các kỹ năng xã hội cơ bản và cách cư xử tốt, tính linh hoạt, khả năng thích nghi, khả năng đồng cảm cơ bản); tính kỷ luật tự giác (ví dụ: khả năng làm việc chăm chỉ, nhận thức về việc sử dụng thời gian hợp lý, khả năng tự chủ cơ bản); mối quan hệ đáng tin cậy với các nhà đào tạo (ví dụ: cởi mở với việc sửa lỗi, nhận thức về tầm quan trọng của tính minh bạch trong đào tạo, ý thức trách nhiệm ngày càng tăng); và thói quen tự chăm sóc lành mạnh (ví dụ: bắt đầu chế độ tập luyện [thể chất], vệ sinh cá nhân, giải quyết mọi vấn đề sức khỏe hoặc thói quen không lành mạnh).

GIAI ĐOẠN ĐÀO TẠO NGƯỜI MÔN ĐỆ [TRIẾT HỌC]

  1. Giai đoạn đào tạo người môn đệ đặc biệt nhấn mạnh đến việc đào tạo nhân bản và sự cần thiết của việc tự nhận thức và sửa dạy về mục vụ thay cho các nhà đào tạo [chủng sinh] để tiếp tục phát triển sự trưởng thành tình cảm. Đây là giai đoạn được đánh dấu bằng sự hiểu biết và tăng trưởng các nhân đức nhân bản, được soi sáng và hoàn thiện bởi đức ái. “Tiến trình đào tạo này nhằm mục đích giáo dục con người về con người thực sự của mình, về tự do và tự chủ. Nó nhằm mục đích vượt qua mọi hình thức chủ nghĩa cá nhân và nuôi dưỡng sự trao ban chân thành, mở ra cho sự tận tụy quảng đại đối với tha nhân.”
  2. Trong giai đoạn đào tạo người môn đệ, chủng sinh tiếp tục học cách kết hợp tự nhận thức bản thân với mong muốn trưởng thành về tình cảm khi tương tác với những người khác trong cộng đoàn chủng viện. Tự nhận thức có thể dẫn đến sự tự chấp nhận, tự chủ, và cuối cùng là tự hiến, thể hiện qua các kỹ năng tương quan.
  3. Ngoài việc thể hiện những ranh giới thích hợp, đến cuối giai đoạn đào tạo người môn đệ, chủng sinh sẽ có khả năng tự phản ánh và truyền đạt những cảm xúc phù hợp xoay quanh xung đột và căng thẳng; chủng sinh thể hiện tình bạn sâu sắc hơn với các chủng sinh khác và phát triển các đức tính như thận trọng, công bằng, kiên cường và tiết độ. Chủng sinh thể hiện sự phát triển những phẩm chất đáng ngưỡng mộ của con người như khiêm nhường, trong trắng, kiên định, chân thành, kiên nhẫn, cư xử tốt, trung thực, giữ lời hứa, biết ơn, hòa nhã, rộng lượng, nhu mì, độ lượng và kiên trì. Chủng sinh thể hiện sự nhạy cảm sắc tộc/chủng tộc [vùng miền] trong lời nói và hành động của mình.
  4. Về mặt kỷ luật bản thân, chủng sinh phát triển các công cụ để quản lý căng thẳng và duy trì sự cân bằng trong cuộc sống, cũng như khả năng sử dụng tự do một cách thận trọng và kín đáo. Chủng sinh nhận thức rõ hơn về những tương quan/tương tác của gia đình mình, và chia sẻ hiểu biết này một cách phù hợp. Chủng sinh thể hiện sự minh bạch ngày càng nhiều với các nhà đào tạo, sự cởi mở với việc đào tạo, và trách nhiệm giải trình về những kỳ vọng của chủng viện.
  5. Giáo hội cần và xứng đáng có những linh mục tốt lành. Khi hoàn tất giai đoạn đào tạo người môn đệ, chủng sinh thể hiện tính kỷ luật trong sinh hoạt/giờ giấc cá nhân và cộng đoàn (ví dụ: đúng giờ khi ngủ nghỉ và khi tham gia các sự kiện/sinh hoạt) và xây dựng một chế độ tập luyện [thể chất] hoặc tham gia một số hình thức tập luyện của cộng đoàn. Họ đã thể hiện sự tiến bộ trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như quá thừa cân hoặc các thói quen không lành mạnh [chẳng hạn, yếu kém trong việc sử dụng thời gian, tham gia quá nhiều vào mạng xã hội, cờ bạc/trò chơi điện tử, TV hoặc các hình thức giải trí khác; và thiếu kỷ luật về thói quen chi tiêu tiền bạc). Đến cuối giai đoạn này, chủng sinh có thể điều chỉnh việc bản thân sử dụng mạng xã hội, cờ bạc và internet, đồng thời hiểu biết và thực hành các giải pháp thay thế lành mạnh đối với việc lạm dụng phương tiện truyền thông.
  6. Đến cuối giai đoạn đào tạo người môn đệ, chủng sinh sẽ quyết tâm xác định xem Chúa có gọi mình cho chức linh mục hay không. Sự chuyển tiếp sang giai đoạn đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô được đánh dấu bằng một mức độ tự nhận thức cho thấy có sự phát triển liên tục, nhất là trong các mối quan hệ với người khác. Ân sủng của Chúa theo đó sẽ xây dựng trên bản chất con người trưởng thành hơn.

GIAI ĐOẠN ĐỒNG HÌNH ĐỒNG DẠNG VỚI CHÚA KITÔ [THẦN HỌC]

  1. Chủng sinh thể hiện sự trưởng thành tình cảm qua khả năng tiếp nhận cách lành mạnh sự hướng dẫn từ người khác, nhất là từ những người có thẩm quyền; họ cũng thực hiện tốt quyền hạn và vai trò lãnh đạo giữa anh em chủng sinh. Họ chứng tỏ mình biết xử lý cách thích hợp các xung đột và căng thẳng.

Việc hoàn tất giai đoạn đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô được đánh dấu bằng sự phát triển liên tục về nội tâm và sự hiệp thông; nói cách khác, các chủng sinh thể hiện sự tự do nội tâm, sự tự chủ, động lực tự thân, khả năng định hướng và tự hiến. Chủng sinh [thần học] đã nội tâm hóa những kỳ vọng của chủng viện và là tấm gương cho chủng sinh các lớp nhỏ hơn. Ví dụ, họ sẵn sàng tình nguyện đảm nhận thêm trách nhiệm trong chủng viện và tránh xa những lời đàm tiếu và sự hoài nghi. Cuộc sống của chủng sinh [thần học] trong cộng đoàn [chủng viện] nên bộc lộ khả năng lãnh đạo vị tha và những phẩm chất tương quan, như tình đoàn kết, lòng trắc ẩn, sự đồng cảm và chăm chú lắng nghe.

Việc liên tục phát triển tính kỷ luật bản thân có nghĩa là chủng sinh có thể lập kế hoạch và thực hiện các nhiệm vụ về học tập lẫn mục vụ; họ đặt ra các ưu tiên phù hợp trong thời biểuh của mình và giải quyết khi có xung đột về thời gian; và có đạo đức làm việc vững mạnh.

  1. Người chủng sinh tiếp tục củng cố những thói quen lành mạnh về việc chăm sóc bản thân trong giai đoạn đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô mà họ đã bắt đầu trong giai đoạn đào tạo người môn đệ. Đến cuối giai đoạn đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, họ có thể được xem là một người nam biết quan tâm, tôn trọng và cảnh giác với cơ thể của mình. Họ thể hiện sự tiến bộ liên tục trong việc giải quyết mọi vấn đề sức khỏe, và thể hiện thói quen cân bằng [giữa] luyện tập và nghỉ ngơi. Họ cũng đã phát triển một chiến lược khả thi để xử lý các vấn đề tâm lý trong cuộc sống. Như một phần của toàn thể sức khỏe [thể chất và tinh thần], họ đã có những thói quen tốt liên quan đến việc sử dụng đúng đắn công nghệ (nghĩa là biết giới hạn việc sử dụng công nghệ giải trí và thể hiện trách nhiệm phù hợp với anh em chủng sinh và các nhà đào tạo về việc sử dụng công nghệ). Ngoài ra, thông qua việc lượng giá, công tác tông đồ và đời sống cộng đoàn, họ thể hiện nhận thức và khả năng quản lý các ranh giới phù hợp.

Nguồn: Program of Priestly Formation