×

Giỏ hàng

Hegel và giáo huấn xã hội Công giáo
Lượt xem:102   Ngày đăng: 2023-11-03 20:42:35

HEGEL VÀ GIÁO HUẤN XÃ HỘI CÔNG GIÁO

Sebastian Ostritsch

Chủng sinh Gioan Quốc Trầm chuyển ngữ từ

Church Life Journal | University of Notre Dame (26/9/2023)

Trong Thông điệp Aeterni Patris ban hành năm 1879, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã xót xa trước sự phát triển nhanh chóng của những trào lưu triết học sai lầm và ngài kêu gọi một sự trở về với chủ thuyết kinh viện, đặc biệt là tư tưởng của thánh Tôma Aquinô. Mặc dù cái tên G.W.F. Hegel (1770–1831) không được đề cập trong văn kiện, nhưng có lý do cho thấy Đức Lêô XIII xem ông và trường phái triết học của ông là một trong những tác nhân chính đề xướng trào lưu triết học nguy hiểm và sai lầm thời bấy giờ. Josef Kleutgen là một địch thủ thẳng thắng và quyết liệt trước chủ nghĩa duy tâm của Hegel, được cho là một trong những cố vấn chính khi Đức Lêô XIII viết thông điệp này[1].

Tuy nhiên, sự quan tâm đến tư tưởng của Hegel ngày càng gia tăng trong số các triết gia và thần học gia đang giảng dạy và nghiên cứu trong vài thập kỷ qua. Trong giới Công giáo cũng vậy, sự quan tâm này đã đưa đến câu hỏi liệu người Công giáo có thật phải ghét Hegel. Có một số lý do hợp lý để hoài nghi sự tương hợp giữa cách Hegel hiểu về Thiên Chúa với giáo lý Công giáo căn bản – hay ngay cả với điều mà C.S. Lewis gọi là “mere Christianity” [Kitô giáo đơn thuần]. Tuy nhiên, khi nói đến triết học xã hội, có một sự đồng thuận đáng ngạc nhiên – tuy vẫn chưa được khám phá đầy đủ – giữa Hegel và giáo huấn xã hội Công giáo [GHXHCG]. Như chúng ta sẽ thấy, lịch sử thật trớ trêu khi Đức Giáo hoàng Lêô XIII đặt ra nền tảng cho GHXHCG với Thông điệp Rerum Novarum năm 1891 ­– chính ngài cố gắng đẩy lùi chủ nghĩa Hegel đang thịnh hành trong thời đại – lại chia sẻ cùng những ý tưởng cốt lõi của Hegel về triết học xã hội tuy ngài không nhận ra.

  1. Ba nguyên tắc của GHXHCG

GHXHCG nổi lên do các vấn đề xã hội liên quan đến quá trình công nghiệp hóa vào thế kỷ XIX. Mặc dù sự thịnh vượng chung về kinh tế gia tăng, nhưng nhiều công nhân vẫn nghèo khổ hay thậm chí sống trong cảnh tồi tàn. Vì vậy, họ thấy mình ở thế thù địch với giai cấp sở hữu là các nhà tư bản. Trong hoàn cảnh này, GHXHCG chống lại cả chủ nghĩa tự do, vốn tập trung vào cá nhân và ngay từ đầu đã đưa đến hoàn cảnh [thù địch] này, và cả những ý thức hệ tập thể như chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vốn tìm cách khắc phục vấn đề xã hội bằng cách bãi bỏ tư hữu (tức phương tiện sản xuất). Thay vào đó, GHXHCG được xây dựng trên suy tư rằng con người có nhu cầu tự nhiên sống trong một cộng đồng và vì thế cá nhân và cộng đồng có mối liên hệ nền tảng với nhau.

Nhu cầu cộng đồng trở nên đặc biệt rõ ràng khi người ta xem xét mối liên hệ chặt chẽ giữa sinh sản, giáo dục, và một gia đình ổn định – mối liên hệ này không phải là đặc điểm của thế giới động vật, nhưng chỉ có ở con người. Từ khi sinh ra, đứa trẻ hoàn toàn bất lực và cần sự quan tâm đặc biệt mà một người cha hay người mẹ khó có thể cung cấp. Và ngay cả sau khi làm chủ cơ thể cách cơ bản nào đó, đứa trẻ vẫn cần cha mẹ nuôi dưỡng. Ngoài ra, trẻ em cần được cha mẹ giáo dục về đạo đức và trí tuệ trong nhiều năm. Chỉ nhờ gia đình tự nhiên (hay trong trường hợp không có thì một thể chế thay thế đảm nhận chức năng đó) mà trẻ em có thể trở nên trưởng thành và tự lập, từ đó có thể bắt đầu và chăm sóc gia đình riêng của mình. Tuy nhiên, bởi vì chỉ một đơn vị gia đình không thể tự thành toàn, nên có xu hướng tự nhiên là hình thành các cộng đồng lớn hơn và độc lập mà có thể gọi đúng là “chính trị”.

Lập luận kết nối con người cá nhân với cộng đồng này được Aristote diễn tả lần đầu qua cách mô tả nổi tiếng con người là một “zôon politikon” [con vật chính trị], là một hữu thể cộng đồng hay chính trị. Thông qua thánh Tôma Aquinô, cái nhìn sâu sắc này của Aristote đã đi vào lý thuyết về luật tự nhiên của Công giáo, từ đó trở thành cơ sở cho GHXHCG. Giáo huấn này có (ít nhất) ba nguyên tắc cơ bản, đều bắt nguồn từ bản chất cộng đồng của con người: (1) nguyên tắc công ích, (2) nguyên tắc liên đới, và (3) nguyên tắc bổ trợ.

(1) Nguyên tắc công ích cho rằng thiện ích của cá nhân và thiện ích chung phụ thuộc lẫn nhau. Để phát triển và thăng tiến như một con người, cá nhân cần đến nhiều thể chế xã hội khác nhau (từ gia đình cho đến nhà nước). Theo quan điểm này, công ích vì thế không gì khác hơn là tất cả những gì khả thể hóa thiện ích của cá nhân. Oswald von Nell-Breuning SJ., người đóng vai trò quan trọng trong việc soạn thảo thông điệp xã hội Quadragesimo Anno (1931) của Đức Giáo hoàng Piô XI, đã định nghĩa công ích như sau:

Công ích là . . . là bản tóm lược tất cả các điều kiện tiên quyết (tiền điều kiện) và cơ sở vật chất (thể chế) có tính chất chung hay cộng đồng, chúng cần thiết để các cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội có thể hoàn thành vận mệnh trần thế và tạo dựng thành công hạnh phúc trần thế thông qua hoạt động của chính họ[2].

Rõ ràng, nguyên tắc công ích không nhượng bộ bất kỳ sự xâm phạm nào đến quyền cá nhân. Đúng hơn, công ích hệ tại ở những thể chế xã hội cho phép cá nhân chăm lo cho hạnh phúc của chính họ.

(2) Nguyên tắc công ích bao hàm nguyên tắc liên đới, vốn nói đến việc cá nhân và cộng đồng quy hướng về nhau, hoặc nói theo von Nell-Breuning là: “Các cá nhân tự bản chất quy hướng về cộng đồng; ngược lại, cộng đồng, vốn chỉ tồn tại trong và vì các thành viên của nó, hoàn toàn hướng về những thành viên này”[3]. Tuy nhiên, sự quy hướng lẫn nhau này không chỉ mang tính mô tả, nhưng vì thuộc trật tự tự nhiên nên cũng mang tính quy phạm [normative]: bởi vì để hạnh phúc, cá nhân cần phải sống như những hữu thể cộng đồng, họ cũng nên hành động liên đới với cộng đồng, tất nhiên là không từ bỏ tính cách cá biệt của mình. Đúng hơn, theo nguyên tắc công ích, các cá nhân phải luôn có khả năng bảo đảm hạnh phúc trần thế của mình bằng sáng kiến và hành động riêng.

(3) Điều gì đúng trong mối liên hệ giữa cá nhân và cộng đồng cũng áp dụng cho mối liên hệ giữa những thể chế xã hội cấp dưới, nhỏ hơn và những thể chế cấp trên, lớn hơn: các thể chế lớn hơn có thể và chỉ nên can thiệp vào công việc của những thể chế nhỏ hơn khi họ không thể tự xoay sở. Đây là cốt lõi của nguyên tắc bổ trợ, được nêu ra lần đầu trong Thông điệp Quadragesimo Anno:

Tước đoạt của cá nhân những việc họ có thể hoàn thành bằng sáng kiến và nỗ lực riêng và trao cho cộng đồng là sai lầm nghiêm trọng; cũng thế, thật bất công và đồng thời là một tội ác trầm trọng và là sự xáo trộn trật tự khi giao cho một tổ chức lớn hơn và cao hơn những gì các tổ chức cấp dưới và nhỏ hơn có thể làm. Bởi vì mọi hoạt động xã hội về bản chất là phải giúp đỡ các thành viên của toàn bộ xã hội, và không bao giờ phá hủy và chi phối họ[4].

Do đó, nguyên tắc bổ trợ dạy về sự phân chia xã hội có trật tự. Toàn bộ xã hội phải giống như một cơ thể khỏe mạnh, trong đó mỗi thành viên tương tác theo cách thức hỗ trợ mà không làm phiền nhau. Cũng giống như nguyên tắc công ích và liên đới, nguyên tắc bổ trợ rõ ràng chống lại chủ nghĩa cá nhân lẫn tập thể. Ngược với chủ nghĩa cá nhân, nguyên tắc bổ trợ thừa nhận rằng cá nhân quy hướng về tính đa dạng của các thể chế cộng đồng. Và ngược với chủ nghĩa tập thể, không một cá nhân nào bị cộng đồng chi phối hay không một thể chế nhỏ hơn nào biến mất trong những thể chế lớn hơn.

Dựa trên những nguyên tắc này, GHXHCG thúc đẩy việc thành lập các thể chế làm thăng tiến lợi ích của người lao động trong xã hội xét như toàn thể. Theo mô mẫu các phường hội (hay đoàn thể) thời trung cổ đã chu cấp an sinh xã hội cho các thành viên, GHXHCG kêu gọi thành lập các “công đoàn của công nhân” và “tái lập các ngành nghề”, tức đổi mới trật tự xã hội ngay từ các đoàn thể[5]. Chỉ thông qua một cộng đồng chính trị có cấu trúc thể chế như vậy mới có thể tránh được sự đa dạng mà không thống nhất (tức chủ nghĩa cá nhân và sự cô lập), cũng như sự thống nhất mà không đa dạng (tức chủ nghĩa tập thể và đại chúng hóa). 

  1. Thấy trước những nguyên tắc của GHXHCG trong Hegel

Được bàn đến thấu đáo nhất trong tác phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” [Elements of the Philosophy of Right] (1820), triết học xã hội của Hegel về cơ bản khác với GHXHCG, ở chỗ nó không bắt nguồn từ lý thuyết luật tự nhiên cổ điển. Thay vào đó, cách tiếp cận của Hegel dựa trên ý niệm tự do như là sự tự quyết [self-determination]. Ý tưởng căn bản này có thể tóm tắt như sau: Hegel cho rằng ý niệm tự do như là sự tự quyết liên kết nội tại với khái niệm tính quy phạm thực hành [practical normativity], tức tính đúng (hay sai) của hành động và hành vi. Theo ý tưởng này, con người chỉ đạt được sự tự quyết thực sự khi hành động theo điều đúng.

Về vấn đề này, Hegel vẫn gần với lý thuyết của Kant khi Kant cho rằng tính luân lý và sự tự trị [autonomy] về cơ bản là một và giống nhau. Tuy nhiên, Hegel khác Kant khi lập luận rằng sự tự quyết không đạt được bằng cách tuân theo nguyên tắc hình thức [formal principle] nào đó (chẳng hạn như Mệnh lệnh nhất quyết [Categorical Imperative]), nhưng đúng hơn là sống theo các vai trò xã hội mà Hegel gọi là “đời sống đạo đức” (“Sittlichkeit[6]”). Thuật ngữ “đời sống đạo đức” về cơ bản nói đến thực tại xã hội của các thể chế và các chuẩn mực tạo nên chúng. Cách cụ thể, “đời sống đạo đức” theo nghĩa của Hegel được tạo nên từ những thể chế như gia đình, xã hội dân sự (chủ yếu là lĩnh vực kinh tế), và nhà nước.

Theo quan điểm của Hegel, những thể chế này rất quan trọng đối với sự tự quyết của cá nhân, bởi vì chúng cung cấp một khuôn khổ nhất định và như thế khách quan cho hành động của một người. Chẳng hạn, trong thể chế gia đình, cha mẹ phải đối mặt với một số bổn phận nhất định đối với con cái. Có thể nói, các tiêu chuẩn quy phạm [normative] được gắn liền với những vai trò làm cha làm mẹ, và do đó không người cha người mẹ nào làm khác đi được. Đồng thời, việc làm cha làm mẹ không chỉ tình cờ xảy đến với cá nhân. Thay vào đó, nó đòi hỏi một sự gắn bó tự do, tức không bị ép buộc và lâu dài, với vai trò xã hội cụ thể này. Đảm nhận những vai trò xã hội như vậy cũng có nghĩa là trở nên độc lập khỏi những khuynh hướng tự nhiên không ổn định. Cách hiểu của Hegel về hôn nhân là một trường hợp điển hình.

Hôn nhân có thể dựa trên tình cảm tự nhiên, nhưng bản chất của nó là tôn trọng và yêu thương người bạn đời bất chấp những cảm xúc bất chợt. Điều này có nghĩa là trong hôn nhân, tình yêu phải được biến đổi từ một cảm xúc đơn thuần thành một hành vi kiên định của ý chí.

Điểm chính yếu rút ra từ những điều này là đối với Hegel, sự tự quyết không bao gồm những lựa chọn một lần, nhưng là một lối sống vững bền. Tự do như là sự tự quyết không hệ tại ở quyết định kết hôn với một người bạn đời nào đó, mà là ở việc tham dự liên tục vào thể chế hôn nhân. Loại tự quyết này của Hegel cũng gắn liền với một ý nghĩa nhất định về căn tính [identity].

Hãy tưởng tượng bạn bị chất vấn: “Bạn là ai?” và muốn đưa ra một câu trả lời đầy đủ. Sẽ khá sai lầm khi trả lời bằng cách liệt kê ra các đặc điểm như chiều cao hay màu mắt. Thay vào đó, người ta thường trả lời bằng cách nêu rõ những vai trò xã hội mà họ đang đảm nhận (lấy tôi làm ví dụ: “Tôi là một người chồng, một người cha, một người Đức, một người Công giáo, một học giả . . .”. Điều này chứng tỏ rằng cá nhân chỉ có được một căn tính đầy đủ và do mình quyết định chỉ khi thuộc về những cộng đồng nhất định. Nghịch lý thay, chính nhờ việc đảm nhận những vai trò xã hội, vốn buộc chúng ta phải tuân theo những thái độ và khuôn mẫu hành vi nhất định nằm ngoài sở thích, mà chúng ta có được một căn tính cá nhân ổn định.

Dựa trên phác thảo ngắn gọn này về triết học xã hội của Hegel, những điểm tương đồng của nó với GHXHCG dần trở nên rõ ràng. Mối liên hệ của cá nhân đối với thực tại xã hội và những khuôn khổ quy phạm [normative frameworks] cấu thành nên căn tính tự quyết của người đó. Cá nhân chỉ là mình trong mối liên hệ với những vai trò xã hội chuẩn mực mà cộng đồng cung cấp.

Do đó, các tiêu chuẩn quy phạm mà cá nhân gặp phải trong những vai trò này (ít là điển hình) không nên xem như là những ràng buộc bên ngoài, mà là những điều kiện khả thể hóa tự do của họ (sự tự quyết). Vì vậy, sự phản đối phổ biến chống lại Hegel – được những người yêu thích Karl Popper phổ biến – rằng triết học của ông thúc đẩy sự khuất phục hoàn toàn của cá nhân đối với nhà nước là hoàn toàn sai lầm[7]. Trái lại, Hegel nhấn mạnh rằng sự tự do của cá nhân được thể hiện nơi các thể chế xã hội khác nhau và nhất là nơi nhà nước với tư cách là thể chế lớn nhất, bao trùm nhất[8].

Như vậy, triết học xã hội của Hegel và GHXHCG có chung quan điểm về mối tương hệ qua lại mang tính hữu thể cũng như tính chuẩn mực giữa cá nhân và cộng đồng. Từ đó không mấy ngạc nhiên, cả ba nguyên tắc Công giáo được thảo luận ở trên đều hiện diện trong tác phẩm Những nguyên lý của Hegel, dù dưới một diện mạo khác.

(1) Tương tự với nguyên tắc công ích, ý niệm của Hegel về “đời sống đạo đức” đề cập đến bản tóm lược những điều kiện và thể chế xã hội mà qua đó các cá nhân hiện thực hóa bản thân. Tất nhiên, điểm khác biệt chính là Hegel tập trung vào sự tự quyết thay vì luật tự nhiên. (2) Nguyên tắc liên đới cũng có trong triết học xã hội của Hegel. Vì, như chúng ta thấy, Hegel rõ ràng có cùng niềm tin rằng các cá nhân hướng về cộng đồng và chính cộng đồng hướng tới các thành viên mà qua đó cộng đồng tồn tại. Và bởi đời sống cộng đồng cấu thành nên căn tính của cá nhân, nên họ bó buộc hành xử cách liên đới với các thể chế. (3) Triết học xã hội của Hegel cũng ủng hộ trật tự bổ trợ của xã hội[9]. Đối với Hegel, tổ chức nhà nước xét toàn thể giống như một “cơ thể” mà các thành viên – gia đình, các thể chế xã hội dân sự, và các thể chế nhà nước – hỗ trợ nhau hoạt động, mà không can thiệp hay kiểm soát lẫn nhau[10]. Ý tưởng cho rằng những thể chế xã hội phải hỗ trợ nhau hoạt động, và những thể chế lớn hơn không kiểm soát thể chế nhỏ hơn, về cốt lõi, là nguyên tắc bổ trợ.

Cuối cùng, có một sự tương đồng kinh ngạc giữa triết học Hegel và giáo huấn Công giáo liên quan đến cảnh ngộ của người lao động dưới chủ nghĩa tư bản. Trong cuốn Những nguyên lý của triết học pháp quyền, Hegel lập luận: “Bất chấp sự dư thừa của cải, xã hội dân sự vẫn không đủ giàu có – tức là các nguồn lực riêng biệt của nó không đủ – để ngăn chặn tình trạng nghèo đói quá mức cũng như ngăn việc hình thành tầng lớp nghèo hèn”[11]. Cần phải lưu ý rằng đối với Hegel, “nghèo hèn” không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là đạo đức. Tầng lớp nghèo hèn gồm những cá nhân, do hoàn cảnh kinh tế, đứng ngoài trật tự xã hội thông thường và do đó đánh mất “cảm thức về lẽ phải, công lý, và danh dự đến từ việc tự nuôi sống bằng chính hoạt động và công việc của bản thân”[12].

Các biện pháp đối phó để ngăn cản sự hình thành tầng lớp nghèo hèn mà Hegel đề xuất không bao gồm những can thiệp trực tiếp từ nhà nước. Ngược lại và phù hợp với nguyên tắc liên đới, ông kêu gọi thành lập các hiệp hội nghề nghiệp, gọi là các tập đoàn. Những tập đoàn này có nhiệm vụ cung cấp sự bảo đảm kinh tế cũng như hỗ trợ đạo đức cho các thành viên. Cuối cùng, Hegel xem tập đoàn như là một loại gia đình đệ nhị che chắn cho cá nhân khỏi bị cô lập và bị xã hội bỏ rơi.

Vì vậy, theo Hegel, “sự thánh thiêng của hôn nhân và sự tôn trọng việc liên kết với tập đoàn là hai mô men mà xã hội dân sự vô tổ chức nhờ đó xoay chuyển”[13]. Nói cách khác, các thể chế hôn nhân và tập đoàn là những lực trung tâm bảo vệ cá nhân khỏi sự bóc lột kinh tế và cô lập xã hội. Do đó, phương pháp chữa trị của Hegel cho cảnh ngộ của giai cấp công nhân về cơ bản trùng hợp với GHXHCG, vốn cũng kêu gọi thành lập các hiệp hội công nhân và đổi mới trật tự mang tính tập đoàn của xã hội. 

Nói chung, giống như GHXHCG, triết học xã hội của Hegel thừa nhận mối tương hệ nền tảng giữa cá nhân và cộng đồng, do đó bác bỏ cả chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể. Bất chấp những khác biệt, tức là Hegel tập trung vào sự tự quyết và Công giáo tập trung vào luật tự nhiên, dường như bất cứ ai cũng có thể vừa theo trường phái Hegel vừa theo Công giáo khi bàn đến cách hiểu về thế giới xã hội. Nếu xem xét bối cảnh lịch sử, người ta thậm chí có thể nói triết học xã hội của Hegel, theo nghĩa nào đó, là sự báo trước cho GHXHCG[14].

 

[1] X. Bernhard Caspar: “Hegel in der Sicht Joseph Kleutgens,” in: Georg Schwaiger (ed.): Kirche und Theologie im 19. Jahrhundert, Göttingen: Vandenhoeck & Ruprecht, 1975, 167–174; and Lawrence S, Stepelevich: “Hegel and Roman Catholicism,” in: Journal of the American Academy of Religion, 60/4, 1992, 673–691.

[2] Oswald von Nell-Breuning: “Gemeinwohl”, in: Oswald Nell-Breuning and Hermann Sacher (eds.): Zur christlichen Gesellschaftslehre (Beiträge zu einem Wörterbuch der Politik, Heft I), Freiburg 1947, col. 47.

[3] Ibid., col. 27.

[4] Piô XI, Quadragesimo Anno, §79.

[5] Lêô XIII, Rerum Novarum §49; Piô XI, Quadragesimo Anno §82.

[6] Kant dùng từ Moralität (morality) (gốc La tinh) và từ Sittlichkeit (gốc Đức) hầu như đồng nghĩa với nhau (vì thế, tiếng Anh cũng dịch Sichlichkeit là morality, vì thế, chúng tôi chọn dịch cả hai từ Moralität/moralisch và Sittlichkeit/sittlich là “luân lý/có tính luân lý” (mặc dù vẫn có thể dịch là “đạo đức/có tính đạo đức”. Theo đó, moralisches Gesetz/sittliche Gesetz đều được dịch thống nhất là “quy luật luân lý”. Về sau, Hegel mới phân biệt giữa Moralität theo nghĩa luân lý cá nhân để ám chỉ đạo đức học của Kant, và Sittlichkeit (tiếng Anh thường dịch là: ethical order/trật tự đạo đức) chỉ nền đạo đức hình thành trong quá trình xã hội hóa (qua gia đình, xã hội dân sự và Nhà nước). Việc Hegel nhấn mạnh kích thước xã hội của Sittlichkeit là một sự phát triển có ý nghĩa, nhưng việc ông xem nhẹ Moralität (hiểu như ý thức luân lý của cá nhân) không khỏi góp phần làm xói mòn việc xây dựng ý thức này do Kant đã đặt cơ sở. X. Hegel, Các nguyên lý của triết học pháp quyền, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, (Hà Nội: NXB Tri thức, 2010). Chú thích của người dịch [ND].

[7] X. Karl Popper: The Open Society and Its Enemies, London/New York: Routledge, 2002, 246.

[8] X. G.W.F. Hegel: Elements of the Philosophy of Right, ed. by Allen W. Wood & transl. by H. B. Nisbet, Cambridge: Cambridge University Press, 1991, §257.

[9] X. Jakob Barion: “Hegels Staatslehre und das Prinzip der Subsidiarität,” in: Die Neue Ordnung, 7 (1953), 193–201; 279–287.

[10] Hegel: Elements, §142; §260, addition.

[11] Ibid., §245.

[12] Ibid., §244.

[13] Ibid., §255, đáng lưu ý.

[14] Cả hai dường như đều có nguồn gốc chung là triết học chính trị và xã hội của Aristote mà Hegel đã quen thuộc và rất coi trọng.