×

Giỏ hàng

Giáo lý về trẻ nhỏ chết khi chưa được rửa tội (Phần 1)
Lượt xem:50   Ngày đăng: 2022-05-11 20:11:52

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN GIÁO LÝ

 VỀ TRẺ NHỎ CHẾT KHI CHƯA LÃNH BÍ TÍCH RỬA TỘI [1]

Francis A. Sullivan, S.J.

Chuyển ngữ: Nhóm Sao Biển

 

Tác giả trình bày lịch sử phát triển của Giáo lý Công giáo về tình trạng trẻ nhỏ (infants) chết mà chưa được rửa tội: (1) khởi đi từ giáo huấn của thánh Augustinô cho rằng các trẻ nhỏ này bị án phạt hỏa ngục với “mức hình phạt thấp nhất”; (2) đến giáo thuyết thời Trung cổ về lâmbô như là tình trạng của các em tuy không được hưởng kiến Thiên Chúa nhưng vẫn hưởng niềm hạnh phúc tự nhiên; (3) đến những lời đầy an ủi của Đức Gioan-Phaolô II, trong Thông điệp Evangelium Vitae (Tin mừng về Sự sống), nói với những phụ nữ phá thai rằng khi ăn năn và giao hòa với Thiên Chúa, thì họ có thể xin tha thứ từ người con hiện đang “sống trong Chúa”.

Giáo hội Công giáo tiếp tục đồng thuận với thánh Augustinô về việc trẻ nhỏ sinh ra đã phải xa cách Thiên Chúa do tội tổ tông truyền dù chúng dường như vô tội nhất trong các thụ tạo của Thiên Chúa; những trẻ này có thể được giải thoát khỏi tội tổ tông truyền nhờ ơn cứu chuộc của Đức Kitô mà chúng lãnh nhận trong bí tích rửa tội. Tuy nhiên, Giáo hội không còn giữ quan điểm của thánh Augustinô là trẻ nhỏ chết không được rửa tội phải bị kết án hỏa ngục với hình phạt mà ngài mô tả là “nhẹ nhàng nhất”[2].

Trong suốt thế kỉ XII đã có một bước phát triển quan trọng trong tư tưởng Công giáo về loại hình phạt mà Thiên Chúa dành cho những ai đến trước tòa phán xét mà đã chẳng phạm bất kì tội cá nhân nào tuy còn mang tội tổ tông truyền. Đầu thế kỉ này, thánh Ansêmô thành Canterbury[3] và Hugh thành Victor[4] vẫn theo quan điểm của thánh Augustinô về việc trẻ nhỏ chết mà chưa được rửa tội sẽ phải chịu hình phạt hỏa ngục. Nhưng sau đó Phêrô Abelard đề xuất rằng, dù tội tổ tông truyền làm xa lìa Thiên Chúa khiến trẻ nhỏ chết mà chưa được rửa tội không được hưởng phúc kiến Thiên Chúa, chúng sẽ không đáng phải chịu thêm hình phạt nào khác nữa[5]. Việc Phêrô Lombarđô đưa quan điểm trên vào cuốn Sentences (Các luận đề)[6] của mình khẳng định sự chấp nhận rộng rãi quan điểm này giữa các thần học gia thế kỉ XIII. Ngay từ đầu thế kỉ, vào năm 1201, Đức Giáo hoàng Innôcentê III đã xác nhận quan điểm này khi tuyên bố rằng hình phạt của tội tổ tông truyền là bị tước đi ơn phúc kiến Thiên Chúa, trong khi sự dày vò nơi hỏa ngục thì dành cho những ai phạm tội riêng[7]. Lời tuyên bố này đưa đến kết luận là thật không phù hợp khi nói những người không chịu hình phạt như vậy mà lại ở hỏa ngục và dùng thuật ngữ “lâmbô” (có nguồn gốc từ tiếng Latinh limbus, nghĩa là “rìa mép”) để gọi tình trạng của trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội. Thánh Tôma Aquinô đề xuất những lý do để tin rằng trẻ nhỏ ở lâmbô có thể vui hưởng một tình trạng hạnh phúc tự nhiên và không phải mang tâm trạng buồn sầu khi phải xa lìa phúc kiến Thiên Chúa[8].

Kể từ thế kỉ XIII, các thần học gia Công giáo thường dạy về lâmbô như là tình trạng đời đời cho trẻ nhỏ chết mà chưa được rửa tội dựa trên một lập luận gồm hai yếu tố: (1) vì trẻ nhỏ không có khả năng ước muốn phép rửa vốn có thể thay thế cho việc lãnh nhận bí tích thực sự nên việc lãnh nhận thực sự là cách duy nhất để các em có thể được giải thoát khỏi tội tổ tông truyền trước khi chết; và (2) mặc dù tội tổ tông truyền loại trừ các em khỏi ơn phúc kiến, nó không có hình phạt nào khác. Mặc dù đây là niềm tin chung của người tín hữu, nó chẳng bao giờ được coi là giáo huấn chính thức của Giáo hội Công giáo, ngay cả khi Đức Giáo hoàng Piô VI bảo vệ giáo huấn này là không theo thuyết Pelagiô khi Công đồng Pistoia – chống phái Jansenit năm 1786 – kết án nó là lạc giáo[9].

Tại Công đồng Vatican I, dự thảo Hiến chế tín lý De doctrina catholica (Giáo lý Công giáo), có viết: “Những ai chết với tội tổ tông truyền mà thôi sẽ mãi mãi không có ơn phúc kiến Thiên Chúa”[10]. Điều này không trở thành giáo lý Công giáo chính thức, vì dự thảo đó chưa bao giờ được Công đồng bỏ phiếu. Tuy nhiên, nó đã cho thấy rằng một số người trong Ủy ban soạn thảo đã muốn Công đồng loại trừ suy đoán của các nhà thần học Công giáo về những cách mà trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội có thể được giải thoát khỏi tội tổ tông truyền và được hưởng kiến Thiên Chúa. Hóa ra, suy đoán như vậy đã trở nên khá sôi nổi 50 năm sau, vào nửa đầu thế kỷ XX. Năm 1954, William Van Roo, một đồng nghiệp lâu năm của tôi tại khoa Thần học của Đại học Grêgôriana, đã xuất bản một bài báo có tựa đề “Trẻ nhỏ chết khi chưa được rửa tội: một khảo sát các văn phẩm gần đây và xác định tình trạng của vấn đề”[11]. Ông nghiên cứu những gì đã được các thần học gia Công giáo viết trong 30 năm qua ủng hộ quan điểm trẻ nhỏ chết có thể được tha tội tổ tông truyền dù không lãnh nhận bí tích rửa tội. Nghiên cứu này cho thấy các giải pháp được đưa ra dựa trên giáo lý cổ điển cho rằng việc thiếu phép rửa thực sự (in re) có thể được bù đắp bởi phép rửa bằng ước muốn (in voto), hoặc bằng cái chết vì Đức Kitô, như đã được ghi nhận trong trường hợp của các thánh Anh Hài. Do đó, người ta cho rằng việc trẻ nhỏ có thể được soi sáng vào lúc chết giúp các em có thể ước muốn phép rửa; hoặc đó là ước muốn của cha mẹ hay của Giáo hội rằng các em sẽ nhận phép rửa, những điều này đủ yếu tố để lãnh phép rửa bằng ước muốn (votum baptismi). Cái chết đau đớn, thậm chí tàn bạo mà nhiều trẻ nhỏ phải gánh chịu cũng được đề xuất là thay thế cho phép rửa. Van Roo đã kết thúc cuộc khảo sát của mình như sau:

Như vấn đề đặt ra ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một giáo huấn thần học chung và một xác tín xuyên suốt một số tài liệu của Giáo hội đi ngược với các lập trường mới. Bằng chứng của giáo huấn chung nơi các nhà thần học và cảm thức Giáo hội (sensus Ecclesiae) chặn đường dẫn đến các giải pháp khác nhau nhằm tìm kiếm ơn cứu độ cho trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội. Những văn phẩm gần đây cũng không làm thay đổi tình hình[12].

Các lập trường khác nhau nói chung đã được các tác giả phát triển với đủ sự khôn ngoan và thận trọng, tránh bất kỳ sự khẳng định nào, mong có được một dấu hiệu khích lệ từ Giáo hội. Vẫn chưa có bất cứ dấu hiệu nào như vậy được đưa ra . . . Đưa ra hiện trạng của vấn đề như vậy, tôi muốn nói rằng người ta không được tự do khẳng định tất cả trẻ nhỏ đều được cứu độ, hoặc trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội được ban cho một phương tiện cứu độ khác ngoài phép rửa thực sự (in re)[13].

Rõ ràng, theo ý kiến ​​của Van Roo, những lập luận được đề xuất ủng hộ ơn cứu độ cho trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội không đủ thuyết phục để vượt qua giáo huấn chung cho rằng chúng sẽ vào lâmbô. Mặt khác, chắc chắn ông đã không đồng quan điểm ​​với một đồng nghiệp khác tại Đại học Grêgôriana là Sebastian Tromp, thư ký của Ủy ban Thần học trong giai đoạn chuẩn bị Công đồng Vatican II, người đã soạn thảo chương về trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội dự định sẽ có nơi lược đồ đề xuất Schema de deposito fidei pure custodiendo (Gìn giữ sự tinh tuyền của gia tài đức tin). Trong dự thảo của mình, ông phê bình những giáo thuyết gần đây là “hấp tấp và nguy hiểm”[14], đây là những giáo thuyết do các nhà thần học Công giáo đề xuất nhằm giải thích làm thế nào trẻ nhỏ chết có thể được cứu độ khi chưa được rửa tội, và ông nhấn mạnh rằng giáo lý phủ nhận ơn cứu độ cho những trẻ này đã được Huấn quyền phổ quát thông thường giảng dạy một cách dứt khoát[15]. Chương dự thảo này của Tromp đã bị loại khỏi lược đồ De deposito fidei vì nó chỉ được thiểu số Ủy ban Trù bị Trung ương chấp thuận[16]. Vấn đề ơn cứu độ của trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội không được đề cập trong bất kỳ tài liệu nào của Công đồng Vatican II. Mặt khác, các nhà thần học tham gia vào Công đồng chắc chắn biết cuộc thảo luận đang diễn ra sôi nổi liên quan đến cách thức trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội có thể được giải thoát khỏi tội tổ tông truyền và được cứu độ; nhiều giám mục chắc hẳn cũng biết vấn đề này. Sự im lặng của Công đồng đối với vấn đề, cũng như việc Ủy ban Trù bị Trung ương đã phản bác nỗ lực của Tromp khiến Công đồng lên án những suy đoán như thế, cho thấy ý định của Công đồng là không cản trở cuộc thảo luận đang tiếp tục.

Như thế, người ta có thể đặt câu hỏi liệu Vatican II có đóng góp gì vào cuộc thảo luận về vấn đề này hay không. Theo tôi, Công đồng đã có đóng góp quan trọng bằng cách nhấn mạnh đến tính phổ quát nơi ý định cứu độ của Thiên Chúa. Khó khăn cơ bản đối với giáo lý truyền thống về lâmbô đó là ơn cứu độ Kitô giáo chính là sự sống vĩnh hằng trong niềm hoan lạc vinh phúc được hưởng kiến Thiên Chúa, trong khi đó trẻ nhỏ ở lâmbô lại bị tước mất ơn này mà không do lỗi của chúng. Điều này đặt ra vấn đề là chúng ta có thể nói Thiên Chúa muốn cứu rỗi các em theo nghĩa nào. Công đồng Vatican II không đề cập đến vấn đề này nhưng lại nhấn mạnh hơn bất kỳ công đồng nào trước đây về ý muốn cứu rỗi thực sự phổ quát của Thiên Chúa. Trong Hiến chế Lumen gentium (Ánh sáng muôn dân – LG) số 13, Công đồng nhấn mạnh tính phổ quát này bằng cách mô tả những người được mời gọi hưởng ơn cứu độ là “tất cả mọi người không trừ ai” (omnes universaliter homines). Trong Hiến chế Gaudium et spes (Vui mừng và Hy vọng – GS) số 22, có một tuyên bố thật mạnh mẽ: “Thật vậy, vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người và vì thật sự chỉ có một ơn gọi tối hậu của con người, ơn gọi từ Thiên Chúa, nên chúng ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh ấy theo cách thế mà chỉ có Chúa biết”[17].

Tôi chưa thấy bất cứ chú giải nào về bản văn này áp dụng cho ơn cứu độ của trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội. Tuy nhiên, khi chú giải GS chương 1, Đức Joseph Ratzinger đã nhấn mạnh một điểm trong bản văn này có thể làm sáng tỏ vấn đề. Tôi đề cập đến luận điểm mà theo ngài minh chứng rằng GS 22 cho thấy một sự tiến bộ hơn so với LG 13. LG 13 quá nhấn mạnh hoạt động của con người. . . . Ngược lại, GS 22 dứt khoát thừa nhận rằng ơn cứu độ là chuyện của Thiên Chúa và chúng ta không thể xác định được. . . . Chính Thiên Chúa hay Thánh Thần của Ngài là Đấng ban ơn cứu độ cho con người và kết hiệp con người với ơn cứu độ này. . . . Ơn cứu độ không phải là một “công trình” của con người. Dù xảy ra ở đâu, ơn cứu độ cuối cùng vẫn là một sự thông phần vào mầu nhiệm phục sinh của thập giá và sự sống lại[18].

Tôi muốn áp dụng tư tưởng của Ratzinger cho vấn đề này bằng việc trích dẫn: “Cách thức cứu rỗi đối với trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội là chuyện của Thiên Chúa và chúng ta không thể xác định được. Chính Thiên Chúa hay Thánh Thần của Ngài ban cho các em ơn cứu độ bằng cách phải thông phần vào mầu nhiệm phục sinh của thập giá và sự sống lại”. Bởi vì điều loại trừ trẻ nhỏ khỏi ơn cứu độ chính là việc không lãnh nhận phép rửa, dù là phép rửa thực sự hay phép rửa ước muốn, nên người ta cũng có thể viện dẫn giáo lý của thánh Tôma Aquinô cho rằng “Thiên Chúa không ràng buộc quyền năng của Ngài vào các bí tích đến nỗi không thể ban hiệu quả của bí tích mà không qua việc lãnh nhận”[19]. Áp dụng điều này cho trường hợp trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa đã không ràng buộc quyền năng của mình vào bí tích rửa tội đến nỗi không thể giải thoát một trẻ nhỏ chưa lãnh bí tích khỏi tội tổ tông truyền.

Trong những năm sau Công đồng Vatican II, việc Công đồng nhấn mạnh về tính phổ quát nơi ý định cứu độ của Thiên Chúa đã củng cố xác tín của nhiều nhà thần học Công giáo rằng ý muốn cứu độ mọi người của Thiên Chúa phải có hiệu lực đối với trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội. Một bài báo tôi thấy đặc biệt quan trọng đối với cả tác giả và tạp chí đăng bài viết là “La salvezza dei bambini morti senza battesimo” của Jean Galot trong La Civiltà Cattolica[20]. Galot lập luận rằng sự phát triển từ giáo lý của thánh Augustinô cho rằng trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội bị án phạt hỏa ngục, nơi chúng phải chịu “mức hình phạt thấp nhất”, đến thánh Tôma Aquinô tin rằng các em này được hưởng sự hạnh phúc tự nhiên trong lâmbô, vốn được thúc đẩy bởi xác quyết rằng nếu Thiên Chúa giáng xuống các em ngay cả những hình phạt nhỏ nhất của hỏa ngục để trừng phạt tội tổ tông truyền thì không xứng hợp với lòng thương xót của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Galot khẳng định, giải pháp thiện chí này, được thúc đẩy bằng việc nại đến lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa, vẫn khiến các em phải chịu sự xa cách vĩnh viễn khỏi Thiên Chúa, mà thực tế đó là nỗi đau chính yếu của án phạt hỏa ngục[21]. Galot kết luận rằng việc loại trừ trẻ nhỏ chết chưa được rửa tội khỏi ơn cứu độ không phù hợp với ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Sau đó, ông viện dẫn nguyên tắc mà Công đồng Vatican II đã muốn các nhà thần học lưu ý: “có một trật tự hay một ‘phẩm trật’ trong các chân lý của giáo thuyết công giáo, tùy theo mức độ liên hệ giữa chân lý ấy với nền tảng đức tin Kitô giáo”[22]. Galot không thực sự sử dụng thuật ngữ “phẩm trật trong các chân lý”, nhưng lập luận của ông dựa trên nguyên tắc tương tự. Vấn đề đối với giải pháp lâmbô là nó loại trừ trẻ nhỏ chưa được rửa tội khỏi thánh nhan Chúa – đưa đến án phạt đời đời – dựa trên sự cần thiết của phép rửa, vì việc thiếu bí tích rửa tội không được thay thế bằng rửa tội theo ước muốn. Galot đưa ra giải pháp sau.

Về giải pháp cho vấn đề này . . . sự cần thiết của phép rửa phải được đặt đúng vị trí của nó. Nó là thứ yếu đối với ý định cứu độ, chính ý định này là nguyên tắc qui định toàn bộ nhiệm cục cứu độ. Để xác định số phận của trẻ nhỏ này, người ta không nên bắt đầu với việc xem xét sự cần thiết của phép rửa. Trong lịch sử, vấn đề này được đặt ra một cách khá tệ, bởi vì người ta chỉ tìm cách giải quyết mỗi vấn đề về sự cần thiết của phép rửa. Đúng hơn, người ta nên bắt đầu với sự xác tín rằng Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ cho những em này, và sau đó mới đặt vấn đề tính cần thiết của bí tích rửa tội trong trường hợp này được xác minh như thế nào. Không tuân theo phương pháp cơ bản này, các nhà thần học đã đề xuất những lý thuyết xét trước hết đến tính cần thiết của bí tích rửa tội, nhưng những lý thuyết đó không phù hợp với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Họ không nhận ra rằng sự cần thiết của phép rửa chỉ là một phương tiện do Thiên Chúa thiết lập để thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài, và do đó nó không thể mâu thuẫn với kế hoạch Thiên Chúa cứu độ những trẻ nhỏ này[23].

Nên nhớ là vào cuối cuộc khảo sát của mình Van Roo đã nhận xét rằng các nhà thần học đã nhìn về Giáo hội để tìm kiếm một dấu hiệu khích lệ, nhưng không có dấu hiệu nào được đưa ra. Nhưng trong vòng 40 năm sau khi kết thúc Công đồng Vatican II, đã có một dấu hiệu như vậy, không phải dưới hình thức một văn kiện giáo lý, mà là Ordo exsequiarum (Nghi thức An táng), được Đức Giáo hoàng Phaolô VI chấp thuận và ban hành vào ngày 15/8/1969. Nghi thức này bao gồm các nghi thức an táng trẻ nhỏ, đã rửa tội cũng như chưa được rửa tội. Trước đây, người ta thường cử hành Thánh lễ Thiên Thần khi an táng trẻ nhỏ đã rửa tội, nhưng hoàn toàn không có thánh lễ dành cho trẻ nhỏ chưa được rửa tội, chúng sẽ không được chôn cất trong đất thánh. Việc Nghi thức mới nói trên có các nghi lễ an táng trẻ nhỏ chưa được rửa tội không chỉ rất an ủi cho cha mẹ chúng, mà còn khuyến khích những nhà thần học đang tìm kiếm một dấu hiệu như vậy. Họ thậm chí hân hoan phấn khởi nhiều hơn nữa do những lời cầu nguyện mà Nghi thức đã qui định đọc trong nhiều phần của nghi thức an táng trẻ nhỏ chưa được rửa tội[24].

 

Xem tiếp Phần 2 tại đây

 

[1] Francis A. Sullivan, S.J.,The Development of Doctrine about Infants Who Die Unbaptized,” Theological Studies 72.1 (2011): 3-14.

[2] Augustine, Enchiridion ad Laurentium c. 93 (PL 40, 275).

[3] Anselm of Canterbury, De conceptu virginali et de originali peccato c. 28, in Opera omnia, 6 vols., ed. F. S. Schmitt (Edinburgh: T. Nelson, 1946–1961), 2:170–71.

[4] Hugh of St. Victor, Summa sententiarum, tract. 5, cap. 6 (PL 176, 132).

[5] Peter Abelard, Commentaria in Epistolam Pauli ad Romanos, liber II (Corpus Christianorum, Continuatio Mediavaelis 11), 169–70.

[6] Peter Lombard, Sententiae, Lib. II, dist. 33, cap. 2.

[7] Innocent III, Maiores ecclesiae causas, Letter to Humbert, Archbishop of Arles (DS 780).

[8] Thomas Aquinas, In II Sent., d. 33, q. 2, a. 2; De malo q.5, a. 3, 4.

[9] Pius VI, Bull Auctorem fidei (1794) (DS 2626).

[10] Vatican I, Schema reformatum constitutionis dogmaticae de doctrina catholica, cap. 5, no.6, in Acta et decreta sacrorum conciliorum recentiorum: Collectio lacensis, 7 vols. (Freiburg: Herder, 1870–1890), 7:565.

[11] William A. Van Roo, S.J., “Infants Dying without Baptism: A Survey of Recent Literature and Determination of the State of the Question,” Gregorianum 35 (1954): 406–73.

[12] Ibid., 472.

[13] Ibid., 473.

[14] x. Giuseppe Alberigo và Joseph A. Komonchak, eds., History of Vatican II, 5 vols. (Maryknoll, N.Y.: Orbis, 1995–2006), 1:245.

[15] Ibid., 310.

[16] Ibid., 311.

[17] Các văn kiện bằng tiếng Anh của Công đồng Vatican II mà tôi sử dụng trong bài này được lấy từ Norman P. Tanner, ed., Decrees of the Ecumenical Councils, 2 vols. (Washington: Georgetown University, 1990).

[18] Herbert Vorgrimler, ed., Commentary on the Documents of Vatican II (New York: Herder & Herder, 1967–1969), 5:162.

[19] Thomas Aquinas, Summa theologiae 3, q. 64, a. 7.

[20] Jean Galot, S.J., “La salvezza dei bambini morti senza battesimo,” La civiltà Cattolica 122 (1971), 228–40.

[21] x. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo (Hà Nội : NXB Tôn giáo, 2010), số 1035: “Hình phạt chủ yếu của hỏa ngục cốt tại việc muôn đời bị tách biệt khỏi Thiên Chúa, Đấng mà chỉ nơi Người con người mới có thể có được sự vinh phúc, là những mục đích của việc con người được tạo dựng, và là những điều con người hằng khát vọng”.

[22] Vatican II, Sắc lệnh về Đại kết, Unitatis redintegratio 11.

[23] Galot, “Salvezza,” 239–40.

[24] Order of Christian Funerals Approved for Use in the Dioceses of the United States of America (New York: Catholic Book, 1989) các số: 278, 282, 289, 293, 322, 325. Xem Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hôi đồng Giám mục Việt Nam, Nghi thức An táng (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2014). Sách Nghi thức An táng này chỉ có các bản văn Kinh thánh dùng trong nghi thức an táng trẻ nhỏ, nhưng không có nghi thức phó dâng từ biệt cho trẻ nhỏ đã hoặc chưa được rửa tội. Phần dịch tiếng Việt là của người dịch.