×

Giỏ hàng

206   2026-01-03 20:02:45

SỐNG ĐỜI LINH MỤC DƯỚI ÁNH SÁNG Hs 2,21-22

 Chủng sinh Phêrô Phạm Minh Châu

DẪN NHẬP

 “Thương ai thương cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng.”

Kinh nghiệm được đúc kết của ông cha thường chân thật và trần trụi, ngay cả trong nhưng cung bậc cảm xúc. Câu ca dao trên là một điển hình khi chỉ ra cách mà con người thường để cho tình cảm lấn át lí trí, đôi khi là không công bằng hay hợp lý. Thiên Chúa của chúng ta lại khác, Ngài yêu thương vô điều kiện đối với tất cả. Tình yêu của Ngài được bộc bạch qua từng trang Kinh thánh, không đơn thuần là khái niệm lý thuyết, nhưng là thực tại sống động. Câu chuyện của Hôsê là một điển hình, vị ngôn sứ nổi bật lên trong Cựu ước như một ngọn đuốc dẫn dắt độc giả vào thế giới tình yêu thiêng liêng và lòng trung tín của Thiên Chúa. Mối quan hệ giữa Thiên Chúa và dân Israel được Hôsê diễn tả không chỉ là một giao ước tôn giáo, mà còn là một cuộc hôn nhân thánh thiện, là tình yêu vĩnh cửu vượt qua mọi sự bội phản bằng tha thứ và yêu thương. Cách cụ thể, đoạn văn Hs 2,21-22 đã mở ra một giao ước mới đầy ân sủng và hy vọng. Tưởng chừng không liên quan, nhưng khi khám phá, người viết nhận ra đoạn văn Hs 2,21-22 ẩn tàng một lời mời gọi mỗi người giữ luật tình yêu qua bản Giao ước vĩnh cửu, cách riêng là sự mời gọi người linh mục.

Vậy, để hiểu rõ hơn những đặc tính nơi bản Hôn ước mà Thiên Chúa đã kí kết với dân Israel có thể soi chiếu những gì cho đời linh mục, người viết sẽ khởi đi từ ngôn sứ Hôsê với cuộc hôn nhân “kì cục”. Kế tiếp, người viết sẽ lược qua nội dung sách ngôn sứ Hôsê để có thể hiểu hơn vị trí của bản văn Hs 2,21-22 và nắm được sứ điệp mà bản văn muốn gởi gắm. Khi đã hiểu biết tư tưởng của Hôsê cũng như nối kết được những hình ảnh trong bản Hôn ước, người viết sẽ gắn kết các đặc tính ấy vào trong đời sống linh mục như là lời nhắn gửi cho chính người viết và những ai đang bước theo Ánh Sáng.

 I. TÁC GIẢ - TÁC PHẨM VÀ CẤU TRÚC BẢN VĂN

1. Tác giả - tác phẩm Hôsê

Ngôn sứ Hôsê thuộc vương quốc phía Bắc. Ông rao giảng tại quê hương của ông mà ông thường gọi là Israel hay Giacóp, và thường xuyên hơn, ông gọi là Ephraim (Hs 4,17; 7,11). Hôsê bắt đầu sứ vụ trong thời kỳ thịnh vượng của đất nước, tức vào những năm cuối cùng của triều vua Giêrôbôam II (783-743 B.C.E) Hôsê chứng kiến sự phục hồi của nước Assyria, cuộc chiến tranh giữa Syria và Ephraim, và nhiều hiệp ước các vua Israel ký kết với Ai Cập và Assyria để được tồn tại. Sứ vụ dài của ông (giữa khoảng 750-725) xem ra được kết thúc với việc Samaria bị thất thủ vào năm 722/721.[1]

Đề tài căn bản của sách là tình yêu của Thiên Chúa đối với Israel thất trung. Đó là lý do sách Hôsê không có những lời sấm về các dân ngoại như các sách ngôn sứ khác. Hôsê là người đầu tiên diễn tả quan hệ giữa Thiên Chúa và Israel trong ngôn ngữ một cuộc hôn nhân. Ông đã cưới một người vợ và người này đã bỏ ông, nhưng ông vẫn tiếp tục yêu quý và đón nhận về lại sau khi đã thử luyện. Kinh nghiệm đau thương ấy được Thiên Chúa dùng làm hình ảnh diễn tả cách cư xử của Ngài đối với dân Ngài. Dân Israel đã được Thiên Chúa cưới lấy, nhưng họ đã ăn ở thất trung. Họ tưởng cứ dâng lễ vật là làm đẹp lòng Ngài. Vì thế, Hôsê nhấn mạnh đến tinh thần đạo đức, tình yêu phải minh chứng bằng hành động thiết thực (6,6). Tuy dân Chúa bất trung và sẽ bị tàn phá, nhưng tình yêu mãnh liệt của Chúa không ruồng rẫy dân Ngài mãi mãi. Sau những cuộc giận dỗi, sẽ có ngày tái hợp. Viễn ảnh thời sau hết được diễn tả bằng cuộc tình duyên vĩnh cửu (2,21-22).[2]

Chúng ta có thể coi sách có bố cục sau:

Đề: 1,1

1) Khung cảnh kinh nghiệm riêng tư của Hôsê: ch. 1–3;

2) Tội và hình phạt của Israel: ch. 4–14: chỉ trích định chế tư tế (ch. 4–7), chỉ trích các tư tế, nền quân chủ và dân chúng (ch. 8-10), tương quan giữa Yhwh và Israel (ch. 11-14);

3) Kết luận: 14,2-9 mở ra và cống hiến những hy vọng mới cho Israel.[3]

2. Cấu trúc Hs 2,21-22

Hs 2,21-22 thuộc đoạn lớn 2,18-25. Nó thực sự không được viết bởi Hôsê, nhưng do một môn đệ ông, với ý định kéo dài bản văn 2,4-17. Vì lý do này, bối cảnh của 2,21-22 nằm trong bối cảnh của 2,18-25.[4] Đoạn của chúng ta có lẽ được biên tập khoảng năm 733 TCN, khi vương quốc phía Bắc bị bao vây bởi hoàng đế Tích-lát Pi-le-xe III.[5]

Cc. 21-22 giải thích sự âu yếm của Đức Chúa được nói ở c.16, và công bố thời đính hôn chính thức. Đồng thời, cc.21-22 còn đề cập đến giao ước hôn nhân giữa Đức Chúa và Israel, qua việc sử dụng động từ ʾāraś (אָרַשֺ) dạng pi., thường được dịch là “đính hôn” hoặc “cưới”.[6]

Động từ  אָרַשֺ (to betroth, to wed –thành hôn, kết hôn) được lặp đi lặp lại ba lần và động từ này được xem như “chìa khóa” của đoạn Hs 2, 21-22,[7] nhằm cho thấy tình yêu mãnh liệt của Thiên Chúa cách lạ lùng. Hơn nữa, cuộc hôn nhân vĩnh cửu mà Thiên Chúa muốn thiết lập với Israel thật đặc biệt, vì trong Kinh Thánh, động từ אָרַשֺ,[8] được dùng trong trường hợp kết hôn với một trinh nữ như Đnl 20,7; 22,23; 28,30. Như vậy, có thể xem Thiên Chúa chẳng còn màng tới sự bất trung của Israel. Dường như quá khứ tội lỗi của Israel ngoại tình đã được xoá sạch, để rồi hiện tại cũng như tương lai của Israel được bắt đầu một khởi điểm hoàn toàn.[9]

Theo Đnl 22,29, giá cưới phải trả bình thường được ấn định là 50 shekel bạc, thì hôn ước giữa Thiên Chúa với dân Israel nơi Hs 2,21-22 lại khác biệt, giá cưới là “chính trực”, “công minh”, “ân tình”, “xót thương” và “tín thành”. Người nhận năm tặng vật này không còn là cha của cô dâu, mà là Israel. Điều này không chỉ biểu thị hành động của Thiên Chúa, nhưng còn xác định sự hiệp thông giữa Người và Israel, như là kết quả công trình của Người. Năm tặng vật này cũng nhằm đảm bảo tính bất khả phân ly của hôn nhân.[10]

II.          CÁC ĐẶC TÍNH TRONG HÔN ƯỚC GIỮA THIÊN CHÚA VỚI DÂN ISRAEL NƠI HS 2,21-22[11]

Trong câu 21, người vợ đại diện cho dân được Đức Chúa tuyên bố lập hôn ước. Người vợ được nhắc đến ở ngôi thứ 2 để cho thấy Đức Chúa lập hôn ước một cách trực tiếp với dân mà không thông qua trung gian nào.[12] Trong hôn ước nơi Hs 2,21-22, tác giả đã cố ý sắp xếp “chính trực”, “công minh”, “ân tình”, “xót thương” thành từng cặp và đi tới đỉnh cao là hạn từ tín thành.[13]

1. Công minh và chính trực

Nếu như công minh (צֶ֣דֶק) có nghĩa là trung thành chu toàn các bổn phận chung đối với những kẻ thiếu thốn và những ai cần giúp đỡ, thì chính trực (מִשְׁפָּ֔ט) lại xác định cách hành xử công bằng trong cộng đoàn, nhằm đảm bảo và duy trì sự hiện hữu của cộng đoàn.[14] Ngay từ sách  Sáng  Thế,  hai danh từ này đã là  chuẩn  mực  mà  Thiên  Chúa  truyền  lại  cho Ápraham và cho con cháu ông phải tuân giữ. Đó như là điều kiện để Thiên Chúa thực hiện lời hứa của Ngài (St 18,19). Trong sách Đệ Nhị Luật và Lêvi,[15] cặp đặc tính: công minh – chính trực luôn đi với nhau và được xem là tiêu chuẩn tiên quyết để bảo vệ sự công bằng và chân lí trong đời sống. Đây còn là cặp nhân đức mà Thiên Chúa mến chuộng và khi sống cặp nhân đức này, Israel được tình thương Chúa chan hòa mặt đất (Tv 33,4). Họ được sống, sống lâu, sống yên hàn, sinh sôi và được chiếm hữu đất mà Thiên Chúa đã hứa ban cho Israel làm gia nghiệp.[16] Giao ước mới mà Thiên Chúa sẽ thiết lập không có sự trừng phạt hay sự đổ vỡ nữa, mà là sự hòa giải và phục hồi. Chính sự công minh của Thiên Chúa sẽ làm cho dân Israel nhận ra tội lỗi và quay trở lại với Ngài.

2. Ân tình và xót thương

Trước tiên, ân tình (חֶ֖סֶד) là những hành động nhân ái và từ bi, phát xuất từ tình yêu tự phát và trách nhiệm qua lại, đồng thời đem lại cho đời sống cộng đoàn một ý nghĩa. Thứ đến, đặc tính xót thương (רַחֲמִֽים) hệ tại tình cảm yêu thương, dựa trên sự liên đới bền vững, và chuyển thành lòng từ bi, đặc biệt hướng đến những ai cần giúp đỡ.[17] Đây là cặp đặc tính mà Thiên Chúa hằng khao khát Israel tuân giữ để được Thiên Chúa chúc phúc, giữ gìn và tình thương của Người được luôn đổ tràn trên dân, từ con người cho tới hoa màu, thú vật (Đnl 7,12). Đồng thời, cặp đặc tính này cũng nói lên tình thương của Thiên Chúa, luôn từ bi, không bỏ mặc, không tiêu diệt và không quên giao ước Người đã thề với cha ông của Israel (Đnl 4,31; Tv 78,38).[18] Đặc biệt, ngôn sứ Giêrêmia đã khắc họa lòng xót thương của Thiên Chúa như một mối tình muôn thuở Ngài dành cho Israel: “Ta đã yêu thương ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3) Thiên Chúa sẽ không còn phán xét và trừng phạt nữa, mà Ngài sẽ ban ân sủng và xót thương. Hôn ước giữa Thiên Chúa và dân Israel không phải là một giao ước của sự ép buộc hay hình phạt, mà là một giao ước của tình yêu vô điều kiện.

3. Tín thành

Tín thành (אֱמוּנָ֑ה ) nhấn mạnh đến sự bền vững trong Thiên Chúa và sự trung tín với cộng đoàn.[19] Một Thiên Chúa luôn tín thành, không mảy may gian dối (Đnl 32,4), muôn ngàn đời vẫn trọn tình thường và lòng thành tín của Ngài trải thế hệ (Tv 100,5). Người luôn bảo vệ và yêu thương con cái Ngài trước kẻ thù hung hãn (Tv 89,23-24). Trong chương 2 câu 22, sự trung tín của Thiên Chúa bất biến được ngôn sứ Hôsê ví tựa giao ước do hai vợ chồng ký kết một cách tín thành. Một khi Thiên Chúa trung tín, con người mới nhận biết được Thiên Chúa.[20] Cụ thể qua việc người vợ sẽ được “biết Đức Chúa” (c.22). Điều này đối lập với việc người vợ không nhận biết người chồng đã đối xử tốt với cô thế nào ở câu 10.[21] Qua đó, hàm nghĩa sự tín thành được đẩy lên cao, bởi dù dân Israel bội phản bất trung, Thiên Chúa vẫn giữ lời Giao ước. Sự trung tín ấy được tỏ lộ qua: chính trực, công minh, ân tình, xót thương. Đức công chính của Ngài, con chẳng giữ riêng lòng mình biết; nhưng con đã nói lên đức trung tín và ơn cứu độ của Ngài, chẳng giấu giếm chi cùng đại hội rằng Ngài thành tín và yêu thương (Tv 40,11).

III. SỐNG ĐỜI LINH MỤC THEO HÔN ƯỚC VĨNH CỬU

Trong bản hôn ước vĩnh cửu, Hôsê không dùng ngôn ngữ giao ước giữa lãnh chúa với các chư hầu mà so sánh tương quan giữa Yhwh với Israel, nhưng dùng ngôn ngữ thuộc về tương quan vợ chồng: ý tưởng nổi bật là tình yêu, chứ không còn là quyền bính nữa.[22] Tình yêu trong Hs 2,21-22 cũng rất phù hợp và cần thiết với đời sống của người linh mục để gửi trao cho tha nhân và dành cho Thiên Chúa, Đấng luôn bảo vệ linh mục.

1. Một đời sống linh mục công minh và chính trực

Người linh mục được mời gọi sống một đời sống công minh và chính trực, vì họ chính là phản ánh chân lý và sự công bình đến từ Thiên Chúa. Dưới ánh sáng của Hs 2,21-22, linh mục phải là người làm chứng cho sự công bình của Thiên Chúa qua chính đời sống và hành động của chính mình. Giáo Hội, giáo dân và thậm chí thế giới này cũng đều mong các linh mục phải là những con người chính trực.[23] Chính trực là một trong những đức tính khó định nghĩa nhưng lại rất dễ nhận ra. Đồng thời, công minh – chính trực đòi hỏi linh mục phải tuân theo những nguyên tắc của sự công bình, không làm điều sai trái, và luôn hành động vì lợi ích của người khác.

Tuy nhiên, cần nhận thức rằng, sự công bình của người linh mục không phải là cào bằng mọi giá trị bản thân với tha nhân hay ngược lại. Công bình là nhân đức nhờ đó con người biết nhận ra cái gì là của mình, cái gì là của anh chị em, cái gì là của Thiên Chúa và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Ngài, trả cho tha nhân những gì thuộc về họ. Công bình đối với Thiên Chúa là thờ phượng Ngài, còn đối với con người là tôn trọng quyền lợi của mỗi người, đối xử công minh, chính trực với họ và thực thi công ích.[24]

2. Người linh mục sống ân tình và xót thương tha nhân

Để nên giống Chúa Kitô, linh mục phải có lòng nhân ái và trắc ẩn như Ngài.[25] Khi làm được điều đó, người linh mục đã sống ân tình và xót thương tha nhân. Đối chiếu với Hs 2,21-22, ân tình và xót thương chính là những hành động nhân ái và từ bi của linh mục dành cho tha nhân. Linh mục phải biết cảm xúc với tha nhân, vì tha nhân và trong tha nhân, nhất là những người đau khổ trong thân xác cũng như trong tâm hồn, phải cảm nhận “những vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là cuả người nghèo và cuả bất cứ ai đang đau khổ...”[26] Linh mục phải thể hiện tình nhân ái và san sẻ của cải, đặc biệt hãy quan tâm đến những vị đau yếu, phiền muộn, lao lực cô đơn, bị đày ải và đang bị bách hại.[27] Linh mục được gọi nên giống Chúa Kitô để trở thành người Samari Nhân Hậu, bởi vì “dụ ngôn người Samari nhân hậu thuộc về Tin Mừng khổ lụy. Nó vạch ra cho chúng ta thấy mối tương quan giữa chúng ta và những anh chị em đau khổ xung quanh đời mình phải như thế nào.”[28] Nhờ cuộc sống độc thân, linh mục hoàn toàn có tự do để yêu thương, quan tâm và chăm sóc mọi người. Linh mục là của mọi người, và mọi người có quyền đòi hỏi linh mục không thuộc về riêng một ai cả:

Linh mục được mời gọi bắt chước gương Chúa Kitô và mang trọn tấm lòng đồng cảm của Ngài đến cho những người ốm đau tật nguyền... Linh mục không giống được với Chúa Kitô ở chỗ linh mục không có quyền năng để chữa lành các anh chị em đau yếu, tuy nhiên, linh mục có thể đem lại cho họ sự an ủi về mặt luân lý và tâm linh, nâng đỡ họ trong cơn thử thách và ngay cả có thể giúp họ mau chóng bình phục hơn.[29]

Có thể linh mục không xóa tan được nỗi thống khổ của tha nhân, nhưng chính sự hiện diện của linh mục trong nỗi thống khổ của họ sẽ đem lại cho họ niềm hy vọng và sự chữa lành.[30]

3. Người linh mục tín thành với Thiên Chúa

Sự tín thành nơi bản văn Hs 2,21-22 như một lời nhắc nhở linh mục phải là gương mẫu trung thành với Thiên Chúa, sống theo sự chỉ dẫn của Ngài trong mọi hoàn cảnh. Nhờ đó, người linh mục mới có thể dẫn dắt cộng đoàn dân Chúa về với Ngài.

Sắc lệnh của Công Đồng Vatican II về chức linh mục cũng đã diễn tả một cách tốt đẹp về sự tín thành là một nhân đức thích hợp nhất cho linh mục, vì vai trò mục vụ của người phản ảnh tình yêu trung tín và dồi dào của Thiên Chúa dành cho dân của Người, và của Đức Giêsu dành cho Giáo Hội.[31] Trong “Lời Thánh Hiến” của Nghi Thức Truyền Chức, Đức Giám mục cầu nguyện cho các tân chức “luôn được trung tín để lời Phúc Âm có thể vang đến tận cùng trái đất, và các dân tộc, được hiệp nhất trong Đức Kitô, sẽ trở thành một dân tộc thánh thiện và duy nhất của Thiên Chúa.”[32]

Tín thành là phải thành thật với bản chất của chính mình cũng như sự đòi hỏi của ơn gọi, rằng người linh mục phải sống một cuộc đời chính trực phát sinh từ niềm xác quyết về căn tính của họ dưới con mắt của Thiên Chúa, rằng linh mục phải bền bỉ chu toàn nhiệm vụ của ơn gọi, rằng linh mục là những người đáng tin cậy trong lời nói và là người dám sống những gì chúng ta tuyên xưng. Do đó, tín thành là một điều thiết yếu trong toàn thể cuộc đời của một người muốn trở nên hoặc đã trở nên đồng hình dạng với Đức Kitô cho đến tận cốt lõi của con người qua bí tích truyền chức thánh.[33]

Cuối cùng, linh mục cần nhận thức rằng Thiên Chúa là Đấng bảo vệ và đồng hành với họ trong mọi nhiệm vụ. Thiên Chúa trong Hôn ước-Đấng yêu thương sẽ không bao giờ bỏ rơi linh mục dù trong những thời điểm gian khó nhất.

KẾT LUẬN

Với những hình ảnh chân thực và sâu sắc, tưởng chừng sách ngôn sứ Hôsê là một bản kết án về sự bất trung của dân Israel, nhưng đó lại là một bức tranh sống động về tình yêu giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Mối quan hệ này được thể hiện qua hình ảnh hôn nhân. Không đơn thuần là người truyền đạt lời Thiên Chúa, nhưng cuộc hôn nhân của Hôsê lại là biểu tượng của một dân tộc phản bội và được Thiên Chúa yêu thương.

Qua Hs 2,21-22, chúng ta không chỉ lắng nghe mà con thấu cảm được việc Thiên Chúa công bố một giao ước mới với dân Israel. Đó không chỉ là lời hứa của một Thiên Chúa đầy ân sủng mà còn là thông điệp về tha thứ và tình yêu vượt qua mọi tội lỗi. Các tặng phẩm hồi môn “chính trực”, “công minh”, “ân tình”, “xót thương” và “tín thành” vừa diễn tả tình yêu đậm sâu mà Thiên Chúa dành cho dân Ngài, vừa phản ánh những giá trị vĩnh cửu mà mỗi tín hữu, đặc biệt là người linh mục cần sống và thể hiện trong đời sống của riêng mình.

Cũng qua Hs 2,21-22, người linh mục được mời gọi sống theo những giá trị của tình yêu Thiên Chúa: công minh và chính trực trong từng hành động, ân tình và xót thương trong từng cử chỉ chăm sóc tha nhân, sau nữa là sự tín thành tuyệt đối với Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Để rồi, chính bản thân người viết và tất cả những ai đang ước ao được sống và đang sống đời linh mục cần xác định rằng: đời sống linh mục không chỉ là một sứ mệnh mục vụ mà còn là một lời chứng cho tình yêu. Nghĩ về thiên chức linh mục, xin hãy làm sống lại các khía cạnh “chính trực”, “công minh”, “ân tình”, “xót thương” và “tín thành”, để các điều khoản trong bản Giao ước nơi Hs 2,21-22 sống mãi trong hiện tại và cả tương lai.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

KINH THÁNH

 Kinh Thánh, ấn bản 2011. Nhóm các Giờ Kinh Phụng Vụ chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2017.

HUẤN QUYỀN

 Công đồng Vatican II. Hiến chế tín lý Về mặc khải Thiên Chúa (Dei Verbum – DV), 18/11/1965. Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

————. Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes ‒ GS), 07/12/1965. Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

  ————. Sắc lệnh về Tác vụ và đời sống các Linh mục (Presbyterorum Ordinis ‒ PO), 07/12/1965. Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

John Paul II. Apostolic letter Salvifici Doloris, February 11,1984. Accessed 14/2/2025. https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/apost_letters/1984/documents/hf_jp-ii_apl_11021984_salvifici-doloris.html.

 

SÁCH

 Ban Giáo lý Giáo phận Nha Trang. Dẫn vào Lời Chúa - Tủ sách Giáo lý viên. Hà Nội:
NXB. Tôn giáo, 2011.

Dolan, Tymothy M. Linh mục cho ngàn năm thứ ba. Trần Đình Quảng chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2009.

Kelle, Brad E. Hosea 2. Metaphor and Rhetoric in Historical Perspective. Atlanta: Society of Biblical Literature, 2005.

Mccomiskey, Thomas Edward., ed. The Minor Prophets. An Exegetical and Expository Commentary. Vol 1, Hosea, Joel, and Amos. Grand Rapids: Baker Book House, 1992.

Nogalski, James D. The Book of the Twelve. Hosea-Jonah. Georgia: Smyth & Helwys Publishing, 2011.

Nguyễn Đình Chiến. “Vì Ta muốn lòng nhân” hesed trong sách Hô-sê. Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2021.

Nguyễn Thế Thủ. Cẩm nang các nghi thức Bí tích và Á bí tích. TGP. HCM, Lưu hành nội bộ, 2003.

Phạm Xuân Uyển. Các ngôn sứ tiền lưu đày. Học viện Thần học Don Bosco, Lưu hành nội bộ.

Patterson, Richard D. and Andrew E. Hill.  Minor Prophets. Hosea-Malachi. Illionis: Cornerstone Biblical Commentary, 2015.

Trần Minh Huy. Nhà đào tạo tâm huyết và sứ vụ đào tạo hôm nay. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2018.

————. Để được đào tạo và tự đào tạo nên Linh mục Giáo phận như Chúa và Giáo hội mong ước. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2021.

Vũ Phan Long. Các sách ngôn sứ. Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2021.

 

WEBSITE

 Pinto, Lawrence. “Sự thánh thiện vẹn toàn trong đời sống linh mục giáo phận - Viễn tượng của ngàn năm thứ ba.” Bản dịch của Ban biên tập Xuân Bích Việt Nam. Truy cập ngày 22/2/2025, https://xuanbichvietnam.net/trangchu/su-thanh-thien-ven-toan-trong-doi-song-linh-muc-giao-phan/

Vũ Chí Thành. “Hôn nhân của ngôn sứ Hô-sê và bà Gô-me: biểu tượng của tương quan giữa Đức Chúa và dân Ít-ra-en.” Truy cập ngày 13/5/2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hon-nhan-cua-ngon-su-ho-se-va-ba-go-me-bieu-tuong-cua-tuong-quan-giua-duc-chua-va-dan-it-ra-en-41930#_Toc72262012.

Vũ Lượng. “Thiên Chúa Trong Cựu Ước Là Thiên Chúa Của Tình Yêu, Nhân Hậu Và Trung Tín”. Truy cập ngày 13/5/2025, http://huangiao.com/index.php/than-hoc/luan-ly/an-sung-va-toi-loi/item/512-thien-chua-trong-cuu-uoc-la-thien-chua-cua-tinh-yeu-nhan-hau-va-trung-tin.

 TẠP CHÍ

 Hồ Sỹ Đoàn. “Tình yêu lạ lùng của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Hôsê - Phân tích Hs 2, 16-25.” Khoa học Công giáo và đời sống 2 (2023): 39.

 

CHÚ THÍCH

[1] X. Phạm Xuân Uyển, Các ngôn sứ tiền lưu đày (Học viện Thần học Don Bosco, Lưu hành nội bộ), 60-61.

[2] X. Ban Giáo lý Giáo phận Nha Trang, Dẫn vào Lời Chúa. Tủ sách Giáo lý viên (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2011), 175-176.

[3] X. Vũ Phan Long, Các sách ngôn sứ (Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2021), 73-74.

[4] Nguyễn Đình Chiến, “Vì Ta muốn lòng nhân” hesed trong sách Hô-sê (Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2021), 59-60.

[5] Nguyễn Đình Chiến, “Vì Ta muốn lòng nhân” hesed trong sách Hô-sê, 60.

[6] X. Ibid., 61.

[7] Brad E. Kelle, Hosea 2. Metaphor and Rhetoric in Historical Perspective (Atlanta: Society of Biblical Literature, 2005), 277.

[8]  Trong Kinh Thánh, động từ אָרַשֺ (to betroth, to wed –thành hôn, kết hôn) xuất hiện mười một lần: Xh 22,16; Đnl 20,7; 22,23; 22,25; 22,27; 22,28; 28,30; 2Sam 3,14, Hs 2,20; 2,21.

[9] James D. Nogalski, The Book of the Twelve. Hosea-Jonah (Georgia: Smyth & Helwys Publishing, 2011), 58.

[10] X. Nguyễn Đình Chiến, “Vì Ta muốn lòng nhân” hesed trong sách Hô-sê, 62-63.

[11] X. Hồ Sỹ Đoàn, “Tình yêu lạ lùng của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Hôsê - Phân tích Hs 2, 16-25”. Khoa học Công giáo và đời sống 2 (2023): 39.

[12] Vũ Chí Thành, “Hôn nhân của ngôn sứ Hô-sê và bà Gô-me: biểu tượng của tương quan giữa Đức Chúa và dân Ít-ra-en,” truy cập ngày 13/5/2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hon-nhan-cua-ngon-su-ho-se-va-ba-go-me-bieu-tuong-cua-tuong-quan-giua-duc-chua-va-dan-it-ra-en-41930#_Toc72262012.

[13] X. Nguyễn Đình Chiến, “Vì Ta muốn lòng nhân” hesed trong sách Hô-sê, 64.

[14] X. Ibid., 63-64.

[15] Đnl 1,16; 16,18, 20; 25,15; Lv 9,16; 18,4; 18,26; 19,15; 20,22; 25, 18-19.

[16] Thomas Edward Mccomiskey,ed., The Minor Prophets. An Exegetical and Expository Commentary, vol. 1, Hosea, Joel, and Amos (Grand Rapids: Baker Book House, 1992), 45.

[17] X. Nguyễn Đình Chiến, “Vì Ta muốn lòng nhân” hesed trong sách Hô-sê, 64.

[18] Richard D. Patterson & Andrew E. Hill, Minor Prophets. Hosea-Malachi (Illionis: Cornerstone Biblical Commentary, 2015), 72.

[19] Nguyễn Đình Chiến, “Vì Ta muốn lòng nhân” hesed trong sách Hô-sê, 64.

[20] X. Vũ Lượng, “Thiên Chúa Trong Cựu Ước Là Thiên Chúa Của Tình Yêu, Nhân Hậu Và Trung Tín”, truy cập ngày 13/5/2025, http://huangiao.com/index.php/than-hoc/luan-ly/an-sung-va-toi-loi/item/512-thien-chua-trong-cuu-uoc-la-thien-chua-cua-tinh-yeu-nhan-hau-va-trung-tin.

[21] Vũ Chí Thành, “Hôn nhân của ngôn sứ Hô-sê và bà Gô-me: biểu tượng của tương quan giữa Đức Chúa và dân Ít-ra-en.”

[22] Vũ Phan Long, Các sách ngôn sứ, 76-77.

[23]  Lawrence Pinto, “Sự thánh thiện vẹn toàn trong đời sống linh mục giáo phận - Viễn tượng của ngàn năm thứ ba,” bản dịch của Ban biên tập Xuân Bích Việt Nam, truy cập ngày 22/2/2025, https://xuanbichvietnam.net/trangchu/su-thanh-thien-ven-toan-trong-doi-song-linh-muc-giao-phan/

[24] Trần Minh Huy, Nhà đào tạo tâm huyết và sứ vụ đào tạo hôm nay (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2018), 167.

[25] X. Trần Minh Huy, Nhà đào tạo tâm huyết và sứ vụ đào tạo hôm nay, 167.

[26] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes ‒ GS), 07/12/1965, bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), số 1.

[27] Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về tác vụ và đời sống các Linh mục (Presbyterorum Ordinis ‒ PO), 07/12/1965, bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), số 8.

[28] John Paul II, Apostolic letter Salvifici Doloris, February 11,1984, Accessed 14/2/2025, https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/apost_letters/1984/documents/hf_jp-ii_apl_11021984_salvifici-doloris.html.

[29] Trần Minh Huy, Để được đào tạo và tự đào tạo nên Linh mục Giáo phận như Chúa và Giáo hội mong ước (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2021), 87.

[30] Trần Minh Huy, Để được đào tạo và tự đào tạo nên Linh mục Giáo phận như Chúa và Giáo hội mong ước, 87-88.

[31] X. Tymothy M. Dolan, Linh mục cho ngàn năm thứ ba, Trần Đình Quảng chuyển ngữ (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2009), 84.

[32] X. Nguyễn Thế Thủ, Cẩm nang các nghi thức Bí tích và Á bí tích (TGP. Hồ Chí Minh, Lưu hành nội bộ, 2003), 107.

[33] X. Tymothy M. Dolan, Linh mục cho ngàn năm thứ ba, 84-85.