×

Giỏ hàng

Quyền huynh trưởng của Phêrô và sự hợp nhất trong Giáo hội (P2)
Lượt xem:380   Ngày đăng: 2022-04-21 20:45:16

QUYỀN HUYNH TRƯỞNG CỦA PHÊRÔ

VÀ SỰ HỢP NHẤT TRONG GIÁO HỘI

Joseph Ratzinger

trong Joseph Ratzinger, “The Primacy of Peter and the Unity of the Church”, Called to Communion (San Francisco: Ignatius, 1991), 47–74.

Chuyển ngữ: Nhóm Sao Biển

2. Vấn đề kế vị thánh Phêrô

a. Nguyên tắc kế vị tổng quát

Việc nhìn nhận quyền huynh trưởng của Phêrô trong tất cả các thành phần chính của Tân ước là điều không thể chối cãi. Khó khăn thực sự nảy sinh khi chúng ta bàn đến câu hỏi thứ hai: Quan niệm về việc kế vị Phêrô có thể lý giải được không? Đi liền với câu hỏi này là câu hỏi thứ ba còn khó trả lời hơn: Liệu việc kế vị Phêrô của Rôma có thể xem là đáng tin cậy không? Liên quan đến câu hỏi đầu tiên, trước hết chúng ta phải lưu ý rằng, không có một tuyên bố rõ ràng nào về việc kế vị Phêrô trong Tân ước. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì cả các sách Tin mừng và các thư chính của Phaolô đều không đề cập đến vấn đề của Giáo hội thời hậu tông đồ – nhắc đến điều này để cho thấy đây là dấu chỉ sự trung thành của Tin mừng đối với truyền thống. Tuy nhiên, một cách gián tiếp, vấn đề này có thể khám phá trong Tin mừng khi chúng ta thừa nhận nguyên tắc của phương pháp phân tích hình thức bản văn (form critical method), theo đó, trong phạm vi truyền thống tương ứng chỉ những gì được xem như có ý nghĩa nào đó cho hiện tại thì mới được bảo tồn bằng chữ viết. Chẳng hạn, điều này có nghĩa là, đến cuối thế kỷ thứ nhất, sau khi Phêrô đã qua đời một thời gian, Gioan vẫn xem quyền huynh trưởng của Phêrô không phải như là việc quá khứ mà như là một thực tại hiện diện trong Giáo hội. Ngay cả nhiều người nghĩ rằng – dù có lẽ với trí tưởng tượng phong phú một chút- họ có cơ sở chắc chắn để giải thích “sự cạnh tranh” giữa Phêrô và môn đệ Chúa yêu như một dư âm của những căng thẳng giữa quyền ưu tiên của Rôma và ý thức về phẩm giá của những Giáo hội tại vùng Tiểu Á. Việc Rôma đã được xem như tiếp nối Phêrô chắc hẳn sẽ là một bằng chứng rất sớm và còn mang tính nội tại của Kinh thánh; nhưng chúng ta không nên dựa vào những giả thuyết không chắc chắn như vậy. Tuy nhiên, đối với tôi, ý tưởng nền tảng này có vẻ đúng, đó là, các truyền thống của Tân ước không bao giờ phản ánh sự quan tâm đối với sự kỳ lạ thuần túy lịch sử, nhưng truyền thống là giá đỡ của thực tế hiện tại và theo nghĩa đó truyền thống liên tục giải thoát sự vật khỏi quá khứ đơn thuần, mà không làm mờ đi tình trạng nguyên thủy đặc biệt.

Hơn nữa, ngay cả các học giả từ chối chính nguyên tắc này cũng đã đưa ra các giả thuyết về sự kế vị. Chẳng hạn, O. Cullmann dứt khoát phản đối ý tưởng kế vị, nhưng ông nghĩ rằng mình có thể cho thấy rằng Giacôbê đã thay thế Phêrô và Giacôbê đã đảm nhận quyền ưu tiên của Phêrô là vị tông đồ đầu tiên thi hành quyền bính này trước Giacôbê. Bultmann thì cho rằng ông đã đúng khi dựa vào việc đề cập đến ba cột trụ (Gl 2,9) để kết luận rằng quá trình phát triển việc kế vị đã đi từ cá nhân lãnh đạo sang tập thể lãnh đạo và cũng cho rằng có một tập thể tham gia vào việc kế vị Phêrô. Chúng ta không cần thảo luận về những giả thuyết này và những giả thuyết tương tự khác vì chúng không có nền tảng cho lắm. Tuy nhiên, những giả thuyết này cho thấy có thể nói đến ý tưởng kế vị, một khi lời nói đã được Kinh thánh truyền lại như mở ra cho tương lai. Trong những bản văn Tân ước vào lúc giao thời với thế hệ thứ hai hay đã thuộc về thế hệ thứ hai này, nhất là nơi Công vụ Tông đồ và trong các Thư mục vụ; thì nguyên tắc kế vị trong thực tế đã có hình dạng cụ thể. Quan niệm Tin lành về “kế vị” chỉ là một lời nói chứ không có nơi bất kỳ “cơ cấu” nào, được chứng minh là lỗi thời so với những gì trong thực tế là hình thức truyền thống nơi Tân ước. Lời nói này gắn liền với chứng nhân, là người đảm bảo cho lời nói này một ý nghĩa rõ ràng, nếu không nó chỉ là một lời nói trôi nổi biệt lập. Nhưng chứng nhân không phải là một cá nhân tự mình đứng độc lập. Họ không thể tự mình là chứng nhân và do sức mạnh của ký ức riêng mình như Phêrô không thể là tảng đá do sức riêng mình. Họ không là chứng nhân bởi “xác thịt và máu huyết” mà là chứng nhân được liên kết với Thần Khí (Pneuma), Đấng Bảo trợ (Paraclete) chứng thực chân lý và mở ra ký ức và đến lượt mình Đấng Bảo trợ nối kết chứng nhân với Đức Kitô. Vì Đấng Bảo trợ không tự mình nói điều gì nhưng là lấy từ “những gì của Thầy” (nghĩa là từ những gì của Đức Kitô: Ga 16,13).

Sự liên kết chứng nhân với Thần Khí và với cách thức hiện hữu của Ngài – “không phải của Ngài nhưng điều Ngài nghe” được gọi là “bí tích” theo ngôn ngữ của Giáo hội. Bí tích này chỉ ra một đầu mối gồm ba yếu tố: lời, chứng nhân, Thần Khí và Đức Kitô, mô tả cấu trúc thiết yếu của sự kế vị trong Tân ước. Chúng ta có thể kết luận cách chắc chắn từ chứng từ của các Thư mục vụ và Công vụ Tông đồ rằng việc liên kết giữa con người và lời trong sự hiện diện đầy đức tin của Thần Khí và Đức Kitô đã được thế hệ tông đồ mặc lấy hình thức việc đặt tay.

b. Quyền kế vị Phêrô tại Rôma

Đối lập với cách thức kế vị của Tân ước được mô tả trên đây trong đó hạn từ “kế vị” là do sự sắp xếp của con người khi nối kết chứng nhân với công việc thì đã xuất hiện từ rất sớm một kiểu tri thức phi thể chế (anti-institutional) được biết đến trong lịch sử với tên Kiến thức bí ẩn (Gnosis). Kiến thức này lấy sự giải thích tự do và sự phát triển suy đoán của từ ngữ làm nguyên lý. Từ lâu việc nại đến nhân chứng cá nhân không đủ để chống lại đòi hỏi trí thức mà khuynh hướng này đề xuất. Cần thiết phải có những điểm cố định để định vị bằng chứng, và những điểm này được tìm thấy nơi gọi là tòa tông đồ là những nơi mà các tông đồ đã hoạt động. Tòa tông đồ đã trở nên điểm qui chiếu của sự hiệp thông đích thực. Nhưng trong số những tòa này thánh Irênê thành Lyon đã cho thấy khá rõ có một tiêu chuẩn quyết định thâu tóm tất cả những tiêu chuẩn khác: Giáo hội Rôma nơi Phêrô và Phaolô tử đạo. Đây là Giáo hội mà tất cả các cộng đoàn đều đồng ý; Rôma đã là tiêu chuẩn của toàn bộ truyền thống tông đồ đích thực.

Hơn nữa, thánh Êusêbiô thành Cêsarê đã sắp xếp ấn bản đầu tiên về lịch sử Giáo hội theo cùng một nguyên tắc như vậy. Đây là một tài liệu ghi chép sự liên tục kế vị tông đồ tập trung vào ba tòa Phêrô là Rôma, Antiôkia và Alexandria – trong đó tòa ở Rôma với tư cách là nơi Phêrô tử đạo đã trở nên nổi bật và thực sự chuẩn mực.

Điều này đưa chúng ta đến một nhận xét rất căn bản. Quyền ưu việt của Rôma hay đúng hơn là việc nhìn nhận Rôma như là tiêu chuẩn của đức tin tông truyền thì có trước quy điển Tân ước và “Sách thánh (Scripture)”. Chúng ta phải cảnh giác ở đây để chống lại một ảo tưởng gần như không tránh được. “Sách thánh” ra đời muộn hơn “các sách trong bộ Kinh thánh (the scriptures)” mà nó được sáng tác. Tuy nhiên, đó là một khoảng thời gian dài trước khi các tác phẩm riêng lẻ tạo thành “Tân ước” như là Sách thánh. Việc tập hợp các tác phẩm thành Sách thánh nói đúng hơn là công việc của truyền thống, một công việc bắt đầu từ thế kỷ thứ hai nhưng chỉ đến thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm mới đến hồi kết thúc. Harnack, một chứng nhân rõ ràng có thiên kiến ủng hộ Rôma, đã nhận xét về vấn đề này rằng chỉ đến cuối thế kỷ thứ hai tại Rôma, một quy điển “các sách Tân ước” mới được công nhận nhờ tiêu chuẩn tông truyền và công giáo tính, một tiêu chuẩn mà những giáo hội khác cũng dần dần tán thành “vì giá trị nội tại của nó và dựa trên sức mạnh của thẩm quyền Giáo hội Rôma”. Vì vậy chúng ta có thể nói rằng [các sách của] Kinh thánh trở thành Sách thánh nhờ qua truyền thống, mà chính xác trong tiến trình này là quyền bính ưu việt ngay từ đầu (potentior principalitas) của tòa Rôma là một yếu tố cấu thành.

Từ đó, có hai quan điểm xuất hiện rõ ràng. Thứ nhất, nguyên tắc truyền thống trong hình thức bí tích của kế vị tông đồ đóng một vai trò chủ chốt trong sự hiện hữu và sự liên tục của Giáo hội. Nếu không có nguyên tắc này thì không thể có một Tân ước nào cả, như thế chúng ta gặp phải mâu thuẫn khi khẳng định cái này trong khi muốn chối bỏ cái kia. Hơn nữa, chúng ta thấy tại Rôma một loạt các giám mục theo truyền thống được ghi nhận là có liên tục kế vị ngay từ đầu. Chúng ta có thể thêm rằng Rôma và Antiôkia đều ý thức về việc kế vị sứ vụ của Phêrô, và ngay từ đầu Alexandria đã được nhận vào số các tòa của Phêrô như là thành phố mà Maccô một môn đệ của Phêrô đã hoạt động. Tuy nhiên, vị trí mà Phêrô tử đạo rõ ràng là nơi chính yếu để chỉ quyền tối cao của ngài và giữ vai trò ưu việt trong sự hình thành truyền thống tạo nên Giáo hội – và như vậy là đối với nguồn gốc của Tân ước như là Sách thánh; Rôma là một trong những điều kiện nội tại và ngoại tại không thể thiếu của khả thể này. Sẽ thật thú vị khi lần theo tầm ảnh hưởng trên quá trình ý tưởng cho rằng sứ vụ của Giêrusalem được chuyển đến Rôma, giúp giải thích tại sao Giêrusalem lúc đầu không phải là “một tòa thượng phụ” cũng không phải là một trung tâm: Giêrusalem lúc này đã được định vị tại Rôma, và từ khi Phêrô rời Giêrusalem, vị trí đứng đầu của nó đã được chuyển đến thủ đô của dân ngoại. Nhưng xem xét kỹ điều này có thể dẫn ta đi quá xa vấn đề trong lúc này. Theo tôi, điểm chính yếu đã thực sự rõ ràng: việc tử đạo của Phêrô tại Rôma ấn định nơi sứ vụ của ngài được tiếp tục. Nhận thức về sự kiện này có thể được phát hiện rất sớm ngay từ thế kỷ thứ nhất nơi Thư của Clêmentê, nhưng chi tiết của sự kiện thì được khai triển chậm.

3. Những nhận định kết luận

Chúng ta sẽ dừng lại ở đây vì đã đạt được mục tiêu chính. Chúng ta đã nhận thấy toàn bộ Tân ước minh chứng rõ rệt quyền huynh trưởng của Phêrô cũng như đã nhận ra rằng sự phát triển mang tính cấu thành của truyền thống và của Giáo hội giả định sự liên tục quyền bính của Phêrô tại Rôma như một điều kiện nội tại. Quyền ưu tiên (primacy) của Rôma không phải là một sáng kiến của các giáo hoàng, nhưng là một yếu tố thiết yếu của sự hợp nhất Giáo hội bắt nguồn từ Chúa và đã được phát triển cách trung thực nơi Giáo hội sơ khai.

Nhưng Tân ước trình bày cho chúng ra nhiều hơn là khía cạnh bên ngoài của một cơ cấu, nó cho thấy bản chất bên trong của cơ cấu này. Tân ước không đơn thuần cung cấp những bản văn bằng chứng, nhưng còn là một tiêu chuẩn và sứ mạng vững bền. Tân ước mô tả sự căng thẳng giữa tảng đá vấp ngã và tảng đá cũng như cho thấy Thiên Chúa là Đấng duy nhất hoạt động và hiện hữu trong chính sự bất cân xứng giữa năng lực con người và uy quyền Thiên Chúa. Nếu trong quá trình lịch sử, việc quy gán quyền lực như vậy nơi con người có thể luôn luôn phát sinh sự nghi ngờ có căn cứ về sự kiêu ngạo của con người, thì không chỉ lời hứa của Tân ước mà cả quỹ đạo của chính lịch sử đó cũng chứng minh điều ngược lại. Những con người này thật rõ ràng không cân xứng với chức năng của họ đến nỗi chính việc trao quyền để trở thành tảng đá cho thấy họ chẳng là gì trong việc nâng đỡ Giáo hội, nhưng chỉ một mình Thiên Chúa nâng đỡ Giáo hội, đấng làm vì con người hơn là qua con người. Có lẽ không có nơi nào mà mầu nhiệm Thập giá hiện diện rõ rệt như nơi quyền huynh trưởng trong tư cách là một thực tại của lịch sử Giáo hội. Sự tha thứ là trung tâm của thực tại này vừa là điều kiện nội tại vừa là dấu chỉ phẩm tính đặc biệt của quyền năng Thiên Chúa. Do đó, mỗi lời nói của Đức Giêsu trong Kinh thánh về quyền huynh trưởng vẫn là một bảng chỉ đường và là một tiêu chuẩn từ thế hệ này sang thế hệ khác mà chính chúng ta phải phải không ngừng tùng phục. Khi Giáo hội bám chặt vào những lời này trong đức tin, Giáo hội không đắc thắng nhưng khiêm tốn nhận ra với sự kinh ngạc và biết ơn chiến thắng của Thiên Chúa ở bên trên và thông qua sự yếu đuối của con người. Những ai tước đi sức mạnh của những lời này vì sợ thái độ đắc thắng hay vì sợ sự chiếm đoạt quyền lực của con người thì họ không công bố Thiên Chúa là Đấng cao cả hơn nhưng lại hạ thấp Ngài, vì Thiên Chúa chứng tỏ quyền năng tình yêu của Ngài, và do đó Ngài vẫn giữ lòng trung thành với lề luật của lịch sử cứu độ, nhất là trong nghịch lý của sự bất lực nơi con người. Bởi vì cùng một khuynh hướng hiện thực mà ngày nay chúng ta tuyên bố tội lỗi của các giáo hoàng và sự không tương xứng với tầm quan trọng của việc ủy thác dành cho họ, chúng ta cũng nên chấp nhận rằng Phêrô vẫn đứng vững như tảng đá nhằm chống lại các ý thức hệ, chống lại sự hòa tan của lời vào những sự hợp lý của một thời điểm nhất định, và chống lại sự khuất phục quyền lực của thế giới này.

Khi thấy vấn đề nêu trên nơi các sự kiện của lịch sử, chúng ta không đề cao con người nhưng ca tụng Thiên Chúa, Đấng không bỏ rơi Giáo hội và muốn cho thấy rằng Ngài là đá tảng xuyên qua tảng đá nhỏ gây vấp ngã là Phêrô: không phải “xác thịt và máu huyết” cứu thoát nhưng chính Thiên Chúa cứu thoát thông qua những con người bằng xương bằng thịt, có máu huyết. Từ chối sự thật này thì không phải là một điểm cộng của đức tin cũng như của sự khiêm nhường, nhưng là thiếu khiêm nhường để nhận ra Thiên Chúa như Ngài là. Vì vậy, lời hứa cho Phêrô và sự thể hiện lời hứa này trong lịch sử tại Rôma vẫn là lý do luôn luôn mới để vui mừng một cách sâu đậm nhất: các quyền lực địa ngục sẽ không thắng được…