×

Giỏ hàng

566   2025-03-09 10:14:00

MỘT LƯỢC SỬ VỀ MÙA CHAY

Norman Tanner SJ

Chủng sinh Giacôbê Nguyễn Tiến Lộc chuyển ngữ từ www.thinkingfaith.org

 

Khi mỗi người chúng ta tìm ra những cách riêng để sống Mùa Chay, chúng ta đang bước theo dấu chân của biết bao thế hệ Kitô hữu qua nhiều thế kỷ, những người đã dành thời gian chuẩn bị cử hành mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Kitô. Hiểu biết của Giáo hội về bốn mươi ngày Mùa Chay đã thay đổi như thế nào từ Công đồng Nicêa vào thế kỷ IV đến Công đồng Vatican II (1962-1965)? Cha Norman Tanner SJ, chuyên viên Lịch sử Giáo hội tại Đại học Giáo hoàng Gregoriana ở Rôma, trình bày sơ lược lịch sử về thời gian của niềm vui và dọn lòng này.

--------------

Lần đầu tiên Mùa Chay được nhắc đến trong lịch sử Giáo hội là vào năm 325 tại Công đồng Nicêa. Công đồng này được biết đến nhiều nhất với bản tuyên xưng đức tin – “Kinh Tin kính Nicêa” - vẫn còn được đọc ở hầu hết các nhà thờ vào mỗi Chúa nhật, ngay sau bài giảng. Tuy nhiên, Công đồng Nicêa còn ban hành 20 điều khoản (canon) mang tính thực tiễn, đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đời sống giáo hội, trong đó điều khoản thứ 5 nói về Mùa Chay.

Từ ngữ được dùng để chỉ Mùa Chay trong điều khoản này là tessarakonta, nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là “bốn mươi”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử có tài liệu ghi nhận một giai đoạn chuẩn bị kéo dài bốn mươi ngày cho lễ Phục Sinh. Ngay từ rất sớm, các Kitô hữu đã cử hành Chúa nhật Phục sinh để tưởng niệm biến cố Chúa Kitô sống lại. Ngay sau năm 325, nhiều cộng đoàn Kitô hữu bắt đầu giữ khoảng thời gian hai hoặc ba ngày đặc biệt, chuẩn bị tưởng niệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Kitô – điều mà ngày nay trở thành “Tuần Thánh”. Tuy nhiên, giai đoạn chuẩn bị kéo dài bốn mươi ngày chỉ được nhắc đến lần đầu tiên nơi điều khoản thứ 5 của Công đồng Nicêa.

Thời gian 40 ngày này được thiết lập theo khuôn mẫu 40 ngày Chúa Giêsu đã trải qua trong hoang địa trước khi bắt đầu sứ vụ công khai:

Bấy giờ Chúa Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ. Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. (Mt 4,1-2).

Trong nhiều ngôn ngữ, từ “Mùa Chay” mang ngụ ý là “bốn mươi”: từ quaresima bắt nguồn từ quaranta (bốn mươi) trong tiếng Ý; từ cuaresma phát xuất từ cuarenta trong tiếng Tây Ban Nha; và từ carême khởi đi từ quarante trong tiếng Pháp. Từ Lent trong tiếng Anh có một nguồn gốc thú vị khác, bắt nguồn từ tiếng Anglo-Saxon (tiếng Anh cổ) với nghĩa là “kéo dài”. Mùa Chay khởi đầu vào thời điểm các giờ ban ngày dần được “kéo dài” thêm khi mùa xuân đến gần. Vì vậy, đây là thời điểm chúng ta có thể “kéo dài” theo nghĩa thiêng liêng, vươn lên và trưởng thành trong Chúa Thánh Thần.

Do đó, chúng ta không nên quá nhấn mạnh vào nỗ lực cá nhân. Cũng như mặt trời được cho là “kéo dài” thời gian ban ngày vào đầu mùa xuân, thì chính Thiên Chúa – với ánh sáng và hơi ấm của Người – cũng thực hiện công việc “kéo dài” này trong chúng ta, giúp chúng ta lớn lên trong Chúa Kitô. Thực vậy, trong tiếng Anh, chúng ta có một cách chơi chữ rất hay đối với hai từ “sun” (mặt trời) và “son” (Người Con - Chúa Giêsu), đều phát âm như nhau. Cũng như mặt trời được cho là “kéo dài” thời gian ban ngày vào mùa xuân, thì chính Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, cũng thực hiện công việc “kéo dài” này trong đời sống thiêng liêng của chúng ta. Hình ảnh này an ủi chúng ta trong thế giới hiện đại bận rộn, nơi mà sự hiếu động thái quá có thể trở thành chuẩn mực. Vai trò của chúng ta trong Mùa Chay là cộng tác với ân sủng và sáng kiến ​​của Thiên Chúa, theo nghĩa là an trú trong sự hiện diện của Thiên Chúa, thay vì cố gắng thúc ép bằng chính sức riêng của mình.

Kinh thánh và Giáo hội sơ khai đã gợi ý nhiều cách khác nhau để thực hiện việc “kéo dài” này, tức là nhiều cách để chúng ta có thể cộng tác với ân sủng của Chúa. Đoạn Tin mừng theo thánh Matthêu chương 4 nhấn mạnh vai trò của việc ăn chay. Trong khi đó, điều khoản thứ 5 của Công đồng Nicêa nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tha thứ và hòa hợp trong cộng đoàn Kitô hữu. Do đó, Giáo hội địa phương phải tổ chức một công nghị “trước Mùa Chay để lễ vật dâng lên Chúa được tinh tuyền vì mọi điều nhỏ nhặt được đặt sang một bên.” Như chúng ta sẽ thấy, nhiều truyền thống khác của Mùa Chay cũng bắt nguồn từ đây.

Mùa Chay có một ý nghĩa đại kết rất sâu sắc. Vào thời của Công đồng Nicêa, Giáo hội còn hợp nhất giữa Đông và Tây phương, vẫn đang cách xa thảm cảnh phân ly giữa Công giáo và Chính thống, vốn sẽ xảy đến vào thế kỷ XI. Thật vậy, Công đồng Nicêa chủ yếu gắn liền với Giáo hội Đông phương, được tổ chức tại thành phố thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Hầu hết các Giáo hội Tin Lành đều công nhận thẩm quyền các Công đồng đầu tiên và do đó, ít nhất là mặc nhiên, thừa nhận các điều khoản của Nicêa. Điều 21 trong số 39 điều khoản của Giáo hội Anh giáo, theo hình thức ban hành lần đầu tiên vào năm 1563, tuyên bố rõ ràng rằng cần phải tôn trọng Công đồng Nicêa. Do đó, để sống Mùa Chay, các Kitô hữu có thể tưởng nhớ cội nguồn Đông phương của đức tin. Các Kitô hữu cũng có thể vui mừng vì mặc dù vẫn còn những chia rẽ đáng tiếc, nhưng sự hợp nhất giữa các Kitô hữu vẫn luôn là nền tảng. Các Kitô hữu đoàn kết hơn nhiều so với chia rẽ.

Điều quan trọng cần nhớ là Mùa Chay là một mùa đầy niềm vui. Kinh Tiền Tụng I Mùa Chay đã thể hiện điều này cách tinh tế:

Vì Chúa ban cho các tín hữu hằng năm được hân hoan đón chờ mầu nhiệm Vượt Qua với tâm hồn đã được thanh tẩy, để khi nhiệt tâm thi hành việc đạo đức và bác ái, nhờ năng chịu các bí tích mà được tái sinh, thì các tín hữu đạt tới sự viên mãn của ơn làm con Chúa.[1]

Có lẽ không cần thiết phải nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh vui tươi này của Mùa Chay, những người lớn tuổi trong chúng ta có thể nhớ đến một kiểu nhấn mạnh khổ chế hơn. Thời còn đi học, chúng tôi được khuyên không ăn đồ ngọt trong suốt Mùa Chay, trong khi tháng Hai và tháng Ba còn khá lạnh lẽo. Nhiều thú vui khác cũng bị hạn chế, chẳng hạn như xem phim. Tất nhiên, việc khổ chế là quan trọng, nhưng điều cần thiết là phải đặt kỷ luật trong bối cảnh thích hợp và tích cực: thanh luyện để chúng ta có thể đón nhận những ân ban của Thiên Chúa cách trọn vẹn hơn.

Hai chiều kích của Mùa Chay – niềm vui và việc dọn lòng – được Công đồng Vatican II nhấn mạnh trong Hiến chế về Phụng vụ thánh (Sacrosanctum concilium, 109-10). Thật đáng trích dẫn đầy đủ đoạn văn sau đây:

109. Mùa Chay có hai đặc tính cần phải được trình bày rõ ràng hơn trong phụng vụ cũng như trong giáo lý về phụng vụ, vì đây là mùa giúp các tín hữu dọn lòng cử hành mầu nhiệm Vượt Qua bằng việc lắng nghe tiếng Chúa và cầu nguyện chuyên chăm hơn, đặc biệt qua việc nhớ lại hoặc chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và qua các hành vi thống hối. Do đó:

a) phải trình bày cách phong phú hơn những yếu tố liên quan đến bí tích Thánh Tẩy dành riêng cho Phụng vụ Mùa Chay; trong đó, một số yếu tố thuộc truyền thống xa xưa cần phải được tái lập, nếu xét thấy thích hợp.

b) đối với các yếu tố liên quan đến việc thống hối, cũng phải làm y như thế. Trong khi dạy giáo lý, phải giúp các tín hữu hiểu rõ không những về các hậu quả của tội lỗi gây ra cho cộng đoàn, mà còn về chính bản chất của việc sám hối, đó là chê ghét tội lỗi vì tội xúc phạm đến Thiên Chúa; đồng thời không được quên vai trò của Giáo hội trong hành vi sám hối, và phải nhấn mạnh đến việc cầu nguyện cho các tội nhân.

110. Trong Mùa Chay, việc thống hối không chỉ ở trong lòng và có tính cách cá nhân, nhưng phải tỏ lộ ra bên ngoàimang tính cộng đoàn. Vì thế, hãy phát huy việc thực hành thống hối với những phương thức có thể thực hiện được trong thời đại hiện nay tại các miền khác nhau, đồng thời cũng phải phù hợp với hoàn cảnh các tín hữu, đây là việc các Đấng Bản Quyền cần phải cổ vũ như đã nói ở số 22. [Thẩm quyền duy nhất điều hành Phụng vụ thánh thuộc quyền của Tông Toà và các Giám mục, chiếu theo quy định của Giáo luật.]

Tuy nhiên, khắp nơi vẫn phải thi hành nghiêm nhặt việc giữ chay thánh dịp lễ Vượt Qua, nghĩa là vào ngày thứ sáu tưởng niệm cuộc Khổ nạn và việc Chúa chịu chết, nếu không trở ngại nên kéo dài qua thứ bảy Tuần Thánh, để với tâm hồn nâng caorộng mở, người tín hữu sẽ hưởng trọn vẹn niềm vui phục sinh.

Công đồng Nicêa năm 325 và Công đồng Vatican II (1962-1965) có thể được coi là hai cột mốc lớn trong lịch sử Mùa Chay: Công đồng Nicêa ghi nhận sự hiện diện của Mùa Chay, còn Công đồng Vatican II nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Trong suốt mười sáu thế kỷ giữa hai Công đồng, cách các Kitô hữu cử hành Mùa Chay đã có nhiều thay đổi.

Ngay từ xa xưa, tuần cuối cùng của Mùa Chay – “Tuần Thánh” – được phân biệt rõ ràng và tập trung vào những ngày sau hết trong cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu, tiếp theo là sự phục sinh của Người. Sự phát triển này là điều dễ hiểu, vì Tuần Thánh gắn liền với trình tự thời gian do các tác giả Tin Mừng đề xuất, dù các học giả vẫn còn tranh luận về tính chính xác của trình tự này. Tuần Thánh bắt đầu với Chúa nhật Lễ Lá, tưởng niệm việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem (Mt 21,1-9; Mc 11,1-10; Lc 19,21-38; Ga 12,12-18). Sau đó là “Bữa tiệc ly” với các môn đệ của mình vào Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) – từ ngữ “Maundy” bắt nguồn từ tiếng Latinh mandatum, có nghĩa là “điều răn”, chỉ lời mời gọi của Chúa Kitô: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13,34) – và lời cầu nguyện trong vườn Ghếtsêmani, sau đó Người bị bắt và đem ra xét xử. Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday) – từ “tốt lành” (Good) ở đây với ý nghĩa là ngày của công cuộc cứu chuộc chúng ta được hoàn tất – là ngày tưởng niệm những đau khổ của Chúa Kitô trong cuộc Thương Khó: Người chịu đánh đòn và đội mão gai, bị kết án bởi Phongxiô Philatô, vác thập giá lên đồi Canvê, chịu đóng đinh, chịu chết và được mai táng. Thứ Bảy Tuần Thánh thinh lặng tưởng niệm thời gian Chúa Giêsu an nghỉ trong mồ, và Chúa nhật Phục Sinh vui mừng vì Người đã sống lại vào “ngày thứ ba,” theo cách tính bao gồm Thứ Sáu, Thứ Bảy và Chúa Nhật.

Phần đầu tiên và kéo dài của Mùa Chay nhằm tái hiện một cách rõ nét hơn 40 ngày Chúa Kitô trong hoang địa. Nhờ đó, các Kitô hữu có thời gian thích hợp để thinh lặng, cầu nguyện và thanh luyện. Các thánh vịnh và các bài đọc Thánh kinh của Thần Vụ - bảy “giờ” kinh bao gồm Kinh Đêm (Matins), Kinh Sáng (Lauds), Kinh giờ Ba (Terce), Kinh giờ Sáu (Sext) (giờ thứ sáu), Kinh giờ Chín (None), Kinh Chiều (Vespers) và Kinh Tối (Compline) – đã được lựa chọn cho thích hợp với “tinh thần Mùa Chay” này. Các bài đọc trong Tuần Thánh bám sát câu chuyện được trình bày trong các sách Tin mừng cùng với các bài đọc thích hợp trích từ Cựu Ước và các phần khác của Tân Ước – đặc biệt đáng chú ý là bốn “Bài ca của Người Tôi Tớ Đau Khổ” trích từ sách Ngôn sứ Isaia (42,1-9, 49,1-7, 50,4-9 và 52,13-53,12) cung cấp các bài đọc I trong các thánh lễ Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư và Thứ Sáu của Tuần Thánh.

Dần dần, Giáo hội cũng quy định các màu sắc phù hợp cho lễ phục của linh mục và các vị chủ sự khác trong các cử hành phụng vụ. Màu tím được sử dụng phổ biến trong Mùa Chay, diễn tả sự sám hối và niềm hy vọng; màu đỏ được chọn cho Thứ Sáu Tuần Thánh, diễn tả việc Chúa Kitô đã đổ máu tử đạo; trong khi lễ phục của Thứ Năm Tuần Thánh cũng như của Đêm Vọng Phục Sinh và chính Lễ Phục Sinh là màu trắng, biểu trưng cho cuộc vinh thắng khải hoàn của Chúa Kitô. Những màu sắc này phản ánh sự quan tâm của Giáo hội đến chiều kích hữu hình trong phụng vụ và đời sống con người.

Nhiều chi tiết của phụng vụ Mùa Chay ngày nay – bao gồm cả việc sử dụng các ngôn ngữ bản địa thay vì tiếng Latinh – được hình thành nhờ những cải cách do Công đồng Vatican II khai xướng mà chúng ta thực sự biết ơn. Tuy nhiên, việc cải cách phụng vụ Tuần Thánh phần lớn đã được Đức Giáo hoàng Piô XII thực hiện trong thập kỷ trước khi Vatican II được triệu tập. Một truyền thống khác của Giáo hội sơ khai mới được khôi phục gần đây là việc đón nhận các dự tòng vào Giáo hội trong Thứ Năm Tuần Thánh, cử hành Bữa Tiệc Ly, là ngày đặc biệt thích hợp cho những người dự tòng rước lễ lần đầu. Tôi may mắn được chứng kiến cảnh hàng trăm người tân tòng được rước lễ lần đầu trong phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh tại nhà thờ giáo xứ St. Francis Xavier ở Petaling Jaya, khi tôi giảng dạy tại Malaysia.

Công đồng Vatican II nhấn mạnh mối liên kết giữa thời gian dự tòng và Mùa Chay. Vì thế, để kết thúc bài viết Lược sử về Mùa Chay này, chúng ta có thể trích dẫn giáo huấn của Công đồng trong Sắc lệnh Ad Gentes như sau:

Phụng vụ Mùa Chay và Mùa Phục Sinh cần được tu chỉnh để giúp các dự tòng chuẩn bị tâm hồn cử hành mầu nhiệm Vượt Qua với những nghi thức long trọng, trong đó họ được tái sinh nhờ Chúa Kitô qua bí tích Thánh Tẩy.

Việc khai tâm Kitô giáo trong thời gian dự tòng không chỉ là phận vụ riêng của các giảng viên giáo lý hay các linh mục, nhưng còn là trách nhiệm của cả cộng đoàn tín hữu, nhất là những người đỡ đầu, phải giúp các dự tòng để ngay từ đầu, họ cảm nhận mình thực sự thuộc về Dân Chúa. Và vì đời sống của Giáo hội gắn liền với sứ vụ tông đồ, nên các dự tòng cũng cần được hướng dẫn tích cực cộng tác vào việc rao giảng Tin mừng cũng như xây dựng Giáo hội bằng chứng tá đời sống và lời tuyên xưng đức tin. (Ad gentes, 14).

--------------------

[1] Bản dịch được cập nhật theo Kinh Tiền Tụng Mùa Chay I trong cuốn Nghi thức Thánh lễ (2005) – trích từ Sách Lễ Rôma, ấn bản mẫu thứ ba – do Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam thực hiện, thay cho đoạn trích trong bài viết của Cha Tanner, vốn thuộc một bản dịch khác. Bản dịch của HĐGMVN chuyển ngữ theo đúng định hướng của Huấn thị Liturgiam Authenticam (2001), yêu cầu các bản dịch phải trung thành hơn nhiều với nguyên bản tiếng Latinh, mặc dù bản văn gốc Latinh của Kinh Tiền Tụng không dễ dịch. Cách dịch này vẫn diễn tả được niềm hân hoan của Mùa Chay (ND).