×

Giỏ hàng

577   2025-05-27 12:16:58

KHÁM PHÁ CHIỀU KÍCH CÁNH CHUNG CỦA THÁNH LỄ

 

Giuse Vũ Thanh Bình - Khoá XVIII (2017 - 2025)

ĐCV Sao Biển Nha Trang

Hướng dẫn tiểu luận: L.m Gioan Bosco Cao Tấn Phúc

Tiểu luận Tốt nghiệp Thần học 2024 - 2025

 

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KINH THÁNH

St                         Sáng thế

Xh                       Xuất hành

Lv                        Lêvi

Tv                        Thánh vịnh

Kn                       Khôn ngoan

Đn                       Đaniel

Is                         Isaia

Gr                        Giêrêmia

Am                      Amos

Mt                       Tin Mừng Matthêu

Mc                       Tin Mừng Maccô

Lc                        Tin Mừng Luca

Ga                       Tin Mừng Gioan

1Ga                     Thư 1 Gioan

1Pr                       Thư 1 Phêrô

2Pr                       Thư 2 Phêrô

Cl                        Thư Cô-lô-xê

Cv                       Công vụ Tông Đồ

Dt                        Thư gửi tín hữu Do Thái

Ep                        Thư Ê-phê-sô

Gl                        Thư Ga-lát

Pl                         Thư Phi-líp-phê

1Cr                      Thư 1 Côrintô

2Cr                      Thư 2 Côrintô

1Tx                      Thư 1 Thêxalônica

Rm                      Thư Rôma

Kh                       Khải huyền

 

SÁCH VÀ HUẦN QUYỀN

SGLHTCG          Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo

HDGMVN          Hội đồng Giám mục Việt Nam

SC                       Sacrosanctum Concilium

SS                        Spe Salvi

DV                      Dei Verbum

GS                       Gaudium et Spes

LG                       Lumen Gentium

VC                      Vita Consecrata

DD                      Dies Domini

PDV                    Patores Dabo Vobis

 

CÁC CHỮ VIẾT TẮT KHÁC

x                          Xem

NXB                   Nhà xuất bản

DẪN NHẬP

Thánh lễ là trung tâm của đời sống Kitô hữu, nơi cộng đoàn tín hữu quy tụ để cử hành Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô – cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để cứu độ nhân loại. Qua từng cử hành phụng vụ, Hội Thánh không chỉ tưởng niệm sự kiện lịch sử ấy mà còn làm cho Mầu nhiệm Cứu độ trở nên hiện tại và phát sinh hiệu quả trong đời sống tín hữu. Tuy nhiên, Thánh lễ không chỉ dừng lại ở một cử hành trong hiện tại mà còn hướng đến những ý nghĩa của tương lại- đây chính là chiều kích cánh chung. Điều này có nghĩa là Thánh lễ không chỉ chứa đựng việc tưởng niệm mà còn hướng đến ý nghĩa cánh chung-  tức là điều hiệun tại và quá khứ quy hướng về thời điểm viên mãn của lịch sử cứu độ, khi Thiên Chúa thiết lập Trời Mới Đất Mới và Đức Kitô ngự đến trong vinh quang.

Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều giáo xứ đang đối diện với một thực trạng đáng lo ngại: giáo dân tham dự Thánh lễ một cách hời hợt, thiếu ý thức. Nhiều người chọn đứng ngoài nhà thờ, ngồi ở gốc cây dù bên trong vẫn còn chỗ trống, hoặc chỉ đến nhà thờ vào lúc rước lễ rồi vội vã ra về. Đáng buồn hơn, có người chỉ xem Thánh lễ như một nghĩa vụ xã hội hơn là một cuộc gặp gỡ thiêng liêng với Thiên Chúa. Tình trạng này cho thấy một sự mai một trong đời sống đức tin và trong niềm hy vọng cánh chung của Kitô hữu. Khi tâm hồn con người bị lôi cuốn bởi những thú vui trần thế, họ dễ dàng quên đi thực tại vĩnh cửu và giá trị sâu xa của Thánh lễ.

Có lẽ, nguyên nhân chính của thực trạng này bắt nguồn từ việc nhiều Kitô hữu đang dần đánh mất niềm hy vọng cánh chung Kitô giáo. Họ chỉ quan tâm đến đời sống hiện tại với những ham muốn vật chất mà không còn hướng đến hạnh phúc đích thực trong Đức Kitô. Họ không nhận ra rằng khi tham dự Thánh lễ, họ không chỉ hiện diện trong một nghi thức tôn giáo, mà còn đang bước vào một thực tại cánh chung, nơi họ được hiệp thông với Giáo hội thiên quốc và được hưởng nếm trước bữa tiệc Nước Trời.

Bởi đó, việc khám phá chiều kích cánh chung của Thánh lễ sẽ giúp các tín hữu ý thức rằng họ không chỉ tham dự vào một nghi thức tôn giáo trong hiện tại, mà còn được mời gọi bước vào một thực tại vĩnh cửu đang dần viên mãn. Khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội không chỉ thực hiện điều mà Chúa Giêsu đã làm và đã truyền lại mà còn hướng đến tương lai, mong chờ ngày Chúa trở lại để hoàn tất chương trình cứu độ. Đây chính là niềm hy vọng cánh chung mà các Kitô hữu tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.”

Trong niềm thao thức, bài nghiên cứu này được trình bày như một nỗ lực nhằm khám phá chiều kích cánh chung của Thánh lễ, giúp Kitô hữu có một cái nhìn sâu sắc hơn về niềm hy vọng cánh chung Kitô giáo. Từ đó, mỗi người sẽ tham dự Thánh lễ một cách sốt sắng và ý thức hơn, để thực sự gặp gỡ Đức Kitô và kín múc nguồn ân sủng dồi dào cho đời sống thiêng liêng.

Bài viết này sẽ được khai triển qua ba chương. Trước hết, Chương I: Cánh chung Kitô giáo – trình bày về ý niệm cánh chung, nội dung của cánh chung học và mối tương quan giữa cánh chung và Thánh lễ. Tiếp đến Chương II: Chiều kích cánh chung của Thánh lễ – khám phá cách Lễ Vượt Qua của Đức Kitô mang chiều kích cánh chung và bảo chứng cho hạnh phúc thiên đàng. Sau cùng, Chương III: Giáo hội sống chiều kích cánh chung qua Thánh lễ – sẽ giúp tín hữu nhận ra giá trị của Thánh lễ, ý thức sâu sắc về sự hiện diện của Đức Kitô và canh tân đời sống đạo của mình.

Mong rằng bài viết này sẽ góp phần giúp mỗi người Kitô hữu ý thức hơn về Thánh lễ, để từ đó sống đức tin cách mạnh mẽ hơn, đặt niềm hy vọng vào ngày Chúa đến, và nỗ lực biến đổi cuộc sống theo tinh thần Tin Mừng.

 

CHƯƠNG I

KHÁM PHÁ CÁNH CHUNG KITÔ GIÁO

  1. Từ ngữ và ý niệm cánh chung.

Cánh chung luận (Eschatologia) tiếng Hy Lạp được ghép bởi: eschata là những điều cuối cùng; và logos nghĩa là lời lẽ, lý luận, môn học. Eschatologia là môn học suy tư, bàn luận về những thực tại cuối cùng. Để hiểu hơn ý nghĩa và sự chuyển hướng trong cách trình bày về Cánh Chung Luận, cần tìm hiểu các hạn từ: De Novissimis, Eschaton và Eschatos.[1]

  • De Novissimis

Trước thế kỷ XIX, Cánh Chung Luận chủ yếu là “Giáo lý về những điều cuối cùng” (The doctrine of the last things) và bộ môn Cánh chung khi ấy chỉ được đặt ở phần cuối cùng của thần học tín lý.[2] Trọng tâm chính bàn về Cánh Chung cá nhân và được nhận thức như một bản miêu tả về sự sống đời sau.[3] Do vậy, từ ngữ thông dụng ám chỉ môn Cánh Chung Luận là De Novissimis, nghĩa là những điều cuối cùng eschata (sự chết, phán xét, thiên đàng, luyện ngục và hoà ngục). Hạn từ này có nguồn gốc từ sách Huấn ca: “Trong mọi lời ăn tiếng nói, hãy nghĩ đến đời con chung cuộc thế nào, thì mãi mãi con sẽ không phạm tội.” (Hc 7, 36)[4] Đây là quan niệm rất tĩnh về cánh chung, đi kèm với đó là sự ảm đạm xem những thực tại cánh chung như những đồ vật hơn là tiến trình xảy ra cho con người và xã hội.[5]

  • Eschaton

Cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ Eschatologia[6] (cánh chung) dần dần đẩy lui từ De Novissimis bởi một sự chuyển đổi rất lớn trong suy tư thần học. Những “sự sau hết” không được hiểu như là sự chấm dứt nhưng như là mục tiêu. Bởi đó, Cánh Chung Luận được trình bày như Eschaton (mục tiêu và cứu cánh của cuộc đời và lịch sử). Khi ấy, những điều cuối cùng trở thành đích điểm của mọi hoạt động. Quan niệm về niềm hy vọng Cánh Chung lúc này đã chuyển từ trạng thái tĩnh sang động; từ cái ảm đạm quy về cá nhân đã mở ra niềm hy vọng cho tương lai và hướng tới chiều kích vũ trụ.

  • Eschatos

Sau Công đồng Vaticano II, Cánh Chung Học di chuyển từ ngoại biên vào trọng tâm diễn đàn thần học, bao trùm mọi khía cạnh của cuộc sống và suy tư Kitô giáo.[7] Từ ý niệm về “Những thực tại Cánh Chung” (Eschata) chuyển sang “Thực Tại Cánh Chung (Eschaton), đến “Đấng Cánh Chung” (Eschatos) – Đấng là “Trọng Tâm” của Cánh Chung.[8] Như thế, bàn về cánh chung  là bàn về một biến cố Tin Mừng cứu rỗi và hy vọng chứ không phải là đe dọa với những thứ hình phạt. Biến cố cứu rỗi chính là Đức Kitô, Ngài đã được sai đến vào thời viên mãn để ban cho con người điều mà con người mơ ước nhất đó là hạnh phúc. Với sự Nhập Thể và Phục Sinh của Ngài, thời cánh chung đã khai mào. Công cuộc canh tân và đổi mới vũ trụ và nhân loại đã bắt đầu, chỉ còn chờ lúc kết thúc. Cánh chung học giờ đây không còn là để tìm bản chất của thiên đàng, hỏa ngục, cái chết hay phán xét, nhưng là giúp cho tín hữu sống hiện tại với hy vọng hoàn tất ơn cứu độ của mình.

Tựu chung, sự chuyển hướng trong lối trình bày cánh chung: Một đàng muốn nêu bật tính cách tích cực của thực tại cánh chung là hướng về tương lai, thắp lên niềm hy vọng; đàng khác muốn đặt Đức Kitô làm trung tâm của cánh chung luận.[9] Với việc trở về nguồn, các nhà thần học đã cho thấy hai chiều kích này không phải là những điều mới mẻ nhưng đã được tỏ lộ trong Kinh Thánh qua dụng ngữ sự sống vĩnh cửu hay sự sống đời đời. Đây cũng là nội dung chính yếu của cánh chung và là niềm hy vọng của mọi người Kitô hữu.

  1. Nội dung cánh chun
  • Sự sống đời đời – Hạnh phúc viên mãn

Theo Tín biểu các thánh Tông đồ, Sự sống đời đời là lời tuyên xưng được các Kitô hữu sử dụng để diễn tả nội dung của niềm hy vọng phát sinh từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô phục sinh. Vậy công thức này đã xuất hiện như thế nào trong Kinh thánh?

  • Sự sống đời đời trong Cựu Ước

Các sách Cựu Ước không đưa ra một quan niệm thống nhất về số phận sẽ đón chờ con người sau khi chết. Đức tin của ông Abraham dựa trên một lời hứa, và lời hứa này hướng về tương lai. Tuy nhiên, tương lai ấy chưa được hình dung rõ rệt như là cuộc sống bên kia cái chết. Vào lúc đầu, tương lai được diễn tả qua những hồng ân Chúa ban như là: dòng dõi đông đảo, sở hữu đất đai, bình an (shalom).[10] Nhưng sau đó có sự tiến triển, các thánh vịnh “huyền nhiệm” cho rằng hạnh phúc đích thực là được ở bên Chúa (Tv 16, 11; 73, 23-26). Vào cuối thời Cựu Ước, nảy sinh tư tưởng về “người chết chỗi dậy” khi Thiên Chúa thiết lập vương triều của Ngài, để thưởng người lành và phạt người dữ (Kn 5, 15; 2 Mc 7, 9-14; Đn 12, 2). Do đó, theo thời gian, quan niệm trong Cựu Ước về sự sống lại, sự sống vĩnh cửu đã được mặc khải tiệm tiến từ chỗ không có, không biết về điều tiếp đến sau cái chến, đến chỗ hình thành và phát triển đậm đà thêm  quan niệm về những ai trung thánh với giao ước sẽ được tiếp tục đối diện với Thiên Chúa sau khi chết. Quan niệm này vẫn cần được mặc khải để đi dần đến mức trọn vẹn.

  • Sự sống đời đời trong Tân Ước

Trong Tin Mừng Nhất Lãm thuật ngữ “Sự sống đời đời” ít được dùng và nếu có được dùng thì thường nhắm đến tương lai. Chẳng hạn như câu hỏi của người thanh niên với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt, để được hưởng sự sống đời đời” (Mt 19,16; Mc 10,17; Lc 18,18). Đối với Chúa Giêsu đời sống vĩnh cửu là gia nghiệp (“thời sẽ đến”) dành cho những ai đã khước từ “nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đồng ruộng” vì danh của Người (Mt 19,29; Mc 10,30; Lc 18,30).[11] Giai đoạn chung cuộc này, mọi sự sẽ được sáng tỏ, người lành sẽ được tách riêng ra khỏi kẻ dữ. Số phận người lành là đến thừa hưởng vương quốc đã dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa, và được sống đời đời. Còn kẻ dữ phải chịu cực hình muôn kiếp nơi lửa không hề tắt (Mt 25, 34. 46).[12]

Nơi Tin Mừng của thánh Gioan, “sự sống đời đời” không những chỉ về tương lai mà còn được áp dụng cho chính Đức Kitô, Con Một Thiên Chúa, Đấng được ban cho nhân loại. Ngay từ bây giờ, con người có thể lãnh nhận hồng ân đó nhờ đức tin, nghĩa là đón nhận Chúa Giêsu, Lời Chúa Nhập thể. Mặc dù bản thân con người yếu đuối, thiếu lòng tin và dễ phạm tội phản nghịch lại lòng yêu thương của Chúa nên sự sống này có thể bị mất đi (1Ga 3, 14 – 15; 5, 16), nhưng tự bản chất nó hướng tới sự chung tất trong tương lai, “khi người tín hữu được đem về với Chúa phục sinh và ở cùng một chỗ với Người (Ga 14, 3; 17, 24). Lúc đó sự chết sẽ bị tiêu diệt, và họ sẽ được sự hiện hữu không cùng tận (Ga 6, 50. 51. 58; 8, 51; 10, 28; 11, 25).”[13]

Đối với thánh Phaolô, Sự sống đời đời là sự hoàn tất cánh chung (Rm 2, 7; 5, 21; Gl 6, 8; Tt 1, 2). Với trọng tâm là sự phán xét của Thiên Chúa, thánh nhân quy hướng sự phán xét này về “Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta”, nhờ Người mà ân sủng thống trị “bằng cách làm cho người ta trở nên công chính để được sống đời đời” (Rm 5,21). Ngài cũng cho thấy sự sống vĩnh cửu là đích đến, mục tiêu và là ân huệ được ban cho những ai, nhờ đức tin và phép rửa, do tác động của Thánh Linh, được thông phần vào sự chết và sự sống của Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh (Rm 6,22 – 23).[14]

  • Sự sống đời đời hệ tại việc được ở với Đức Kitô

Những từ ngữ “nhìn thấy Chúa” và “sự sống vĩnh cửu”, chứa đựng ý nghĩa mối liên hệ với Đức Kitô. Thật vậy, Tin Mừng Nhất Lãm diễn tả hạnh phúc qua nhiều biểu tượng. Các biểu tượng đó đều gắn liền với sự hiện diện của Đức Kitô như: dụ ngôn mười cô trinh nữ đón chàng rể (Mt 25, 1-13) đến như một dự ngôn đặc trưng cho biến cố cánh chung, và chỉ những người tỉnh thức và sẵn sàng đón chàng rể mới được mời vào dự tiệc. Cách riêng trên thập giá, Chúa Giêsu đã hứa cho anh trộm lành được ở với Ngài: “Tôi nói thật cho anh hay, ngay hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Tôi” (Lc, 23, 43). Đây là một trong ba chỗ mà từ “thiên đàng” xuất hiện trong Tân Ước.[15] Điều đáng nói ở đây là đối với thánh Luca, thiên đàng hệ tại ở với Đức Kitô. Hâi hạn từ “hôm nay” và “ở với” còn cho thấy “thiên đàng” còn là việc cùng chung cảnh ngộ và gắn bó với Người. Các tác giả Cựu Ước mơ hạnh phúc “ở với Chúa” (Tv 16, 11; 73, 23-26); bây giờ, người trộm biết ăn năn được Chúa hứa cho vào ở với Ngài. Như vậy, vào thiên đàng hay vào Nước Chúa là ở với Đức Kitô.

Đối với thánh Phaolô, việc “ở với Đức Kitô” vừa bao hàm chiều kích hiện tại vừa cả chiều kích cánh chung. Trong hiện tại, người tín hữu sống “trong Đức Kitô và với Đức Kitô” nhờ Phép Rửa trong Thánh Thần. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn ngóng trông đến một sự hoàn tất khi họ được “ở với Đức Kitô mãi mãi” (1Tx 4, 17). Chính thánh nhân cũng khắc khoải mong sớm được lìa bỏ cuộc lưu đày dưới thế này để được về “gần kề bên Chúa” (2Cr 5, 8), “được ở với Đức Kitô” (Pl 1, 23).[16]

Trong các tác phẩm của thánh Gioan, ta cũng gặp thấy tư tưởng hạnh phúc cánh chung, có được sự sống đời đời cũng hệ tại nơi việc “ở với Đức Kitô” (Ga 17, 24; Kh 3, 20; Ga 14, 3). Như vậy, tin là sống với một Đấng mà “Họ biết Cha là Thiên Chúa duy nhất chân thật, và Đấng mà Cha sai đến là Giêsu Kitô” (Ga 17, 3). Cái “biết” theo Kinh Thánh không chỉ là hành vi trí tuệ, nhưng là sự kết hợp trọn vẹn với Chúa và thông dự vào tình nghĩa thắm thiết giữa Chúa Cha và Chúa Con. Do đó, sự sống đời đời hệ tại việc thông dự vào việc cảm nhận tình yêu của Chúa, tham dự vào tình yêu dạt dào của Thiên Chúa, hay có thể nói là được ở với Đức Kitô.[17]

Tựu chung, Tân Ước dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh để diễn tả hạnh phúc cánh chung, nhưng tất cả đều qui hướng về Đức Kitô, một Đức Kitô kinh qua cuộc tử nạn và phục sinh nơi Tin Mừng Nhất Lãm và một Đức Kitô đã hoàn tất giờ của mình để được giương cao và đón nhận vinh quan nơi Tin Mừng Gioan. Ở đâu có Đức Kitô, ở đấy có Nước Thiên Chúa. Người là điểm qui tụ và thành toàn của tất cả mọi niềm hy vọng mà các tiên tri loan báo. Chẳng vậy mà Giáo hội đã mượn lời của thánh Ambrôsiô để nói lên: “Sự sống là được ở với Đức Kitô, bởi vì ở đâu có Đức Kitô, ở đó là Nước Trời.”[18]

  • Cùng đích ở tương lai khởi đầu ở hiện tại

Nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, thực tại cánh chung đã được khai mào khi qua Đức Kitô, Thiên Chúa xích lại gần con người hơn và con người được đưa đến kết hiệp với Thiên Chúa. Mặc dù đời sống vĩnh cửu đã được nghiệm thấy ngay từ bây giờ trong mối tương quan với Chúa Giêsu (đức tin), nhưng sẽ chỉ hoàn tất trong biến cố cánh chung của sự phục sinh: “phàm ai thấy Người Con và tin vào Người thì có đời sống vĩnh cửu; và tôi sẽ cho họ chỗi dậy trong ngày sau hết” (Ga 6,40). Bởi đó, Đời sống vĩnh cửu là một thực tại được ban từ bây giờ, và đồng thời là “một lời hứa”. Điều này được thấy rõ qua các thư của Thánh Phaolô và nơi Tin Mừng Gioan.

Thánh Phaolô cho thấy Đức Kitô đã đập tan sự chết rồi. Thời kỳ tương lai đã khởi đầu nhờ sự phục sinh của Ngài. Ngài đã mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu (x. 1Cr 15, 20). Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta đã được tham dự vào cái chết và phục sinh của Đức Kitô rồi (Rm 6, 4): chúng ta đã chết cho tội lỗi, đã sống cuộc đời mới. Chúng ta đã được thanh luyện khỏi tội lỗi, đã nên thánh, đã trở thành con cái của Chúa, đền thờ của Thánh Linh rồi.[19] Tuy nhiên, những thực tại vừa nói còn ở giai đoạn đầu: chúng ta chỉ mới lãnh nhận bảo chứng của ơn cứu chuộc, đặc biệt là Thánh Thần (2Cr 1, 22; 5, 5; Ep 1, 14). Chúng ta còn mang trong mình những vết tích tội lỗi và sự chết. Vì thế, chúng ta trông mong được giải thoát hoàn toàn khỏi cảnh nô lệ đó (Rm 8, 19-22). Điều này sẽ xảy đến khi Đức Kitô quang lâm, mạc khải (x. 1Tx 4, 15; 2Tx 2, 1; 1Cr 15, 23; 1, 7; 2Cr 1, 7).[20]

Đối vối thánh Gioan, Sự sống đời đời là phần thưởng và đích điểm của những ai tin vào Đức Kitô. Bởi đó, thực tại cánh chung đã xảy ra ngay bây giờ cho những ai tin vào Chúa Giêsu, chứ không cần chờ đến ngày quang lâm (x. Ga 3, 18; 5, 24-25). Sự cứu rỗi đã được quyết định ngay từ bây giờ nhờ lòng tin: ai tin thì được sống. Chúng ta có thể thấy điều đó rõ ràng hơn qua đoạn Ga 11, 25-26: khi bà Maria tuyên xưng em mình sẽ sống lại vào ngày tận thế, thì Chúa Giêsu đã kéo tương lai ấy vào ngay hiện tại: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26).

Dù vậy, Tin Mừng Gioan cũng không thiếu những đoạn nói đến ngày sau hết trong tương lai: Đức Kitô sẽ lại đến để đem các môn đệ về với mình (Ga 14, 3). Có sự phán xét trong hiện tại và có sự phán xét trong tương lai: “Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan tòa xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết” (Ga 12, 48). Bởi đó, chúng ta vẫn còn chờ mong được ở bên cạnh Người mãi mãi: Người đi trước và dọn chỗ cho chúng ta.

Như thế, ta có thể thấy được, cánh chung của Tân Ước trình bày cho thấy hai chiều kích của cánh chung. Thời sau hết đã được mở đầu với cuộc Nhập Thể, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, nhưng còn chờ sự hoàn tất vào ngày Đức Kitô quang lâm. Do đó, thực tại cánh chung mang trong nó đặc tính rất riêng biệt đó là đặc tính “rồi mà chưa”, hay nói cách khác là cùng đích ở tương lai, khởi đầu ở hiện tại.[21]

  • Hướng về hạnh phúc cánh chung

Nói đến cánh chung tức là nói đến đối tượng của hạnh phúc. Trong các sách Cựu Ước, chúng ta thấy hạnh phúc nằm ở chỗ chiếm hữu nhiều tài sản và con cháu. Như thế, đối tượng hạnh phúc là những tài sản hưởng dùng ở đời này, bởi vì chết là hết. Sự thưởng phạt do vậy cũng  đã diễn ra ở đời này. Trong xã hội duy vật ngày nay cũng vậy, với sự bùng nổ của những phát minh, khoa học kĩ thuật mang lại những hứa hẹn cải thiện và nâng cao mức sống, người ta đã nghĩ rằng hạnh phúc vì thế có thể đạt được ở thế giới này, không cần phải mơ mộng về một thế giới nào nữa.

Nhưng thực tế lại giáng một đòn đau vào mối bận tâm đi tìm hạnh phúc. Con người luôn cưu mang về một niềm hy vọng: hy vọng giàu sang, hy vọng thành đạt, hy vọng hạnh phúc, hy vọng được sống… Con người cứ mãi muốn lấy hy vọng lấp đầy những hy vọng. Họ cảm thấy không bao nhiêu cho đủ nơi cuộc sống này. Cách chung, con người thời đại hôm nay “hy vọng vào một thế giới được thiết lập một cách viên mãn, nhờ qua kiến thức khoa học và thứ chính trị đặt nền tảng trên khoa học. Như thế, hy vọng theo Thánh kinh về vương quốc của Thiên Chúa bị thay thế bằng một thứ hy vọng vào vương quốc của con người.”[22] Hạnh phúc của con người vì thế cũng chóng qua như thực tại chóng qua ở đời này. Hiện tượng tử tự đang ngày càng phổ biến như một minh họa cho việc con người không tìm thấy niềm hạnh phúc thực sự nơi cuộc sống trần thế.

Quả thật, vương quốc thực của con người không phải là vương quốc ở trần gian do con người tạo ra, mà là vương quốc của Thiên Chúa, do Thiên Chúa tạo cho con người. Người sáng tạo và làm chủ vũ trụ (x. St 1, 1), Người ôm trọn vũ trụ vào lòng và có thể ban tặng cho chúng ta điều chúng ta không thể tự sức đạt được. Vì thế, “Thiên Chúa là nền tảng của hy vọng – không phải bất cứ Thiên Chúa nào, nhưng là Thiên Chúa mang bộ mặt con người và yêu chúng ta cho đến cùng: yêu từng người và cả nhân loại.”[23] Đức Kitô được Thiên Chúa Cha sai đến, Ngài đã mang cho con người niềm hy vọng qua bài giảng về Tám Mối Phúc thật (x. Mt 5, 1-12), và chính Ngài là niềm hy vọng đưa chúng ta đến hạnh phúc đích thực khi Ngài hứa Ngài lên trời trước để dọn chỗ cho con người (x. Ga 14, 2), “ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (Ga 14, 20).

Nhưng để đạt được niềm hy vọng đó cần có sự cộng tác của con người, vì thế, con người luôn luôn hướng vào tương lai do chính Thiên Chúa hứa, bên cạnh đó họ cũng hướng vào tương lai nội tại của thế giới.[24] Vì những hy vọng trong thế giới là những điều thực tiễn và là môi trường cũng như là động lực để thúc đẩy việc thực hành và chuyển đạt niềm hy vọng tôn giáo của mình, chứ không phải là đối kháng như nhiều người vẫn nghĩ. Khi con người làm những việc công bình, sự công chính, và dấn thân làm việc bác ái xây dựng thế giới ngày một tốt đẹp hơn … là lúc con người hy vọng vào chính Thiên Chúa.[25] Như vậy hy vọng vào tương lai, hướng về cùng đích của đời mình không phải là “thuốc phiện cho nhân dân” hay là “chính sách ngu dân” nhưng là nhân tố thúc đẩy con người biến đổi thế giới theo hướng lời hứa của Thiên Chúa. Do đó “Hy vọng Kitô giáo là động lực thúc đẩy mọi hy vọng nội tại ở trần gian, thẩm thấu vào chúng và nâng đỡ chúng để thực hiện hết sức mình khi tin tưởng vào lòng từ bi và quyền năng của Thiên Chúa.”[26]

Đức Kitô là nguồn suối, là nguyên nhân của cuộc sống viên mãn và hạnh phúc đời đời, là nơi cho con người đặt trọn niềm hy vọng hạnh phúc mãi mãi, bởi vì Ngài “là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14, 6 ), ai tin vào Người thì được sự sống đời đời (x. Ga 1, 12). Đối với mỗi người Kitô hữu, sự hy vọng mang đến cho họ niềm tín thác vào Chúa. Cuộc đời của họ không do ai khác định đoạt, nhưng “nằm trong bàn tay quan phòng của Chúa là Cha nhân lành.”[27] Ngài dựng nên và Ngài luôn muốn con người được hưởng hạnh phúc với Ngài. Qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã chứng tỏ cho loài người thấy lòng yêu thương của Ngài đối với nhân loại. Từ đó, con người thâm tín rằng tiếng nói cuối cùng sẽ là tình yêu, và sự sống đời đời trên Nước của Thiên Chúa (x. 1Cr 15, 15 – 28. 54 - 58).

  1. Tương quan giữa cánh chung và Thánh lễ

Khi bàn về cánh chung, chúng ta không thể không nghĩ về bàn tiệc trên thiên quốc mà Thiên Chúa sẽ chiêu đãi chúng ta, mọi người ăn thỏa thích không phải trả đồng nào (x. Is 55, 1). Cũng vậy,  qua hai lần hóa bánh ra nhiều như dấu chỉ tiên trưng cho bàn tiệc Thánh Thể (Mt 14, 13-21 và Mt 15, 32-39) Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta đến để ăn cho thỏa thích mà không tốn kém chi, vì “Đấng cứu chuộc chúng ta đã thiết lập hy tế tạ ơn bằng Mình Máu Người, để nhờ đó hy tế khổ giá kéo dài qua các thời đại cho tới khi Người lại đến”[28]; và trong Thánh lễ hằng ngày chúng ta vẫn tuyên xưng: “Lạy Chúa chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”. Từ đó cho thấy bàn tiệc cánh chung và bàn tiệc Thánh Thể có liên quan rất chặt chẽ với nhau, có thể nói Thánh Thể là một bàn tiệc cánh chung.

Thật vậy, tiệc cánh chung đã được nói tới nhiều trong Cựu Ước và nhất là Tân ước, nhiều dụ ngôn được mô tả trong bối cảnh bàn tiệc cánh chung (x. Mt 25, 1-13…). Trong thánh lễ, lời nguyện hiệp lễ thường có ý xin cho tín hữu khi tham dự bàn tiệc Thánh Thể cũng được tham dự bàn tiệc thiên quốc đời đời. “Với việc tự hiến, Đức Kitô khai mở cách khách quan thời đại cánh chung. Người đến để quy tụ dân Chúa đang tản mác khắp nơi (x. Ga 11, 52), tỏ lộ ý định của Người là quy tụ cộng đoàn giao ước, để hoàn tất lời giao ước của Thiên Chúa với các tổ phụ(x. Gr 23, 3; 31, 10; Lc 1, 55. 70).”[29] Chính Chúa Giêsu cho chúng ta tham dự và nếm trước bàn tiệc cánh chung qua việc rước Mình và Máu Ngài và chính Lời của Ngài. Vậy với việc Chúa Kitô đến trần gian và việc Ngài ban chính Ngài, Thiên Chúa đã mở màn cho thời đại cánh chung. Tất cả chúng ta và tạo vật đều mong ngóng đón chờ ngày tỏ hiện của Chúa Kitô trong vinh quang của thời cánh chung (x. Rm 8, 19). Ngày nay, mỗi lần tín hữu đến tham dự thánh lễ, họ đang cùng nhau sống trong tình hiệp nhất của đoàn dân mới, và đón chờ thời cánh chung sẽ đến, với niềm hy vọng cánh chung vì được nếm hưởng trước hạnh phúc Nước Trời nơi bàn tiệc Thánh Thể và bàn tiệc Lời Chúa. Vì thế Thánh lễ phải được cử hành trong niềm vui của cộng đoàn chư thánh.[30]

Thánh lễ cũng đưa chúng ta tới hiệp thông với Đức Kitô nhờ việc “ăn Thịt và uống Máu Chúa”, và được Lời Chúa biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Nhờ thông hiệp với Đức Kitô, chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha, Đấng đã ban Thánh Thần cho chúng ta, ngõ hầu chúng ta được hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Qua đó người tín hữu được biến đổi cuộc sống tựa như cành củi khô khi được ngọn lửa chạm đến. Mặt khác, tất cả chúng ta và mọi tạo vật khác đang trên đường lữ hành về với Thiên Chúa, và Hội Thánh trong dòng thời gian và giữa lòng thế giới cùng đang hướng đến sự viên mãn cánh chung. Thiên Chúa tạo dựng con người (x. St 1, 27 ), Ngài mời gọi họ đến để hưởng hạnh phúc thực sự và vĩnh cửu ở nơi Thiên Chúa tình yêu. Lời mời gọi đó được Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô đã đến trần gian để hướng dẫn và nâng đỡ bởi tình yêu và ân sủng của Ngài. Đấng ấy đã giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết, trả lại tự do nguyên tuyền mà con người đã đánh mất khi nghe theo ma quỷ, và chính Ngài cho chúng ta nếm trước niềm hạnh phúc của tình yêu trong bí tích Thánh Thể để mạc khải chiều kích cánh chung của cuộc lữ hành trần thế của mỗi chúng ta và của toàn vũ trụ.

 

CHƯƠNG II

CHIỀU KÍCH CÁNH CHUNG CỦA THÁNH LỄ

Từ những điều đã được mô tả, thực tại cánh chung không phải là một điều xa lạ chỉ xảy ra sau cuộc sống ở trần thế này, nhưng đã được khai mở khi Đức Kitô xuống thế làm người, và tiếp diễn nơi Thánh lễ. Nơi đó, cộng đoàn dân Chúa được hưởng nếm hương vị bữa tiệc Thiên Quốc, được cảm nghiệm hạnh phúc thật sự bằng việc rước lấy chính Chúa Kitô. Hạnh phúc mà người tín hữu nhận được chính là sự sống thần linh của Đức Kitô, qua đó Ngài sẽ ban cho chúng ta được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa Ba Ngôi.

  1. Lễ Vượt Qua của Đức Kitô mang chiều kích cánh chung

Truyền thống Do thái đã gán cho máu chiên con một giá trị cứu rỗi và hằng năm cử hành Lễ Vượt qua để tưởng nhớ biến cố Thiên Chúa giải thoát họ khỏi tay người Ai Cập. Truyền thống Kitô giáo đã nhận thấy nơi Đức Kitô “Con Chiên Vượt Qua đích thực” và sứ mạng Cứu chuộc của Ngài.

  • Hy tế duy nhất và vĩnh cửu

Hình ảnh hy lễ của dân Do Thái trong Cựu Ước cho thấy hy tế như là lễ vật dâng lên Thiên Chúa để xin ơn của Người và mục đích của hiến lễ là làm thay đổi tâm trạng của Thiên Chúa. Tuy nhiên, mục đích của việc dâng hy tế không dừng lại ở đó. Nó phải đưa người ta đến một cùng đích sâu xa hơn theo như ý muốn của Thiên Chúa. Những hy lễ Cựu Ước không có được năng lực đó bởi súc vật bị hiến tế không thay đổi được gì trong lòng dạ con người. Vì thế, hy tế xá tội vẫn được dâng lên hằng năm mà không làm cho con người tiến gần Thiên Chúa. Nhưng với hy tế thập giá, Đức Kitô đã biến đổi toàn bộ đời sống con người, giải thoát con người khỏi mọi ngăn cản đến với Thiên Chúa. Công đồng Triđentinô dạy rằng: “Bằng cuộc khổ nạn rất thánh của Ngài trên cây thập giá, Đức Kitô đã lập công cho chúng ta được nên công chính.”[31] Ngài chính là lễ vật khả giác hoàn hảo nhất vượt xa mọi lễ vật trong Cựu Ước, vượt hẳn mọi hy lễ và mang lại hiệu quả trọn vẹn bởi Ngài chính là Con Thiên Chúa, “Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.”[32] Ngài là Thiên Chúa thật nên Hy tế của Ngài là Hy tế vĩnh cửu và của lễ hy sinh của Ngài luôn đẹp lòng Chúa Cha. Giao ước mới đó được kí kết trong máu Đức Kitô, “máu đổ ra trên thập giá đã chỉ được dâng một lần và không lặp lại.”[33]Hơn nữa, nếu Đức Kitô chỉ là con người mà không phải là Thiên Chúa thì cái chết của Ngài cũng chỉ là cái chết như bao con người khác, nghĩa là cái chết của Ngài không thể cứu độ chúng ta.[34]

  • Hy tế mang lại ơn tha tội

Nơi Hy tế thập giá, Chúa Giêsu hoàn toàn ý thức được rằng hy lễ của Ngài không vô ích nhưng mang lại giá trị cứu độ đích thực. Thật vậy, Chúa Giêsu đã nói trong Bữa Tiệc Ly: “Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (Mc 14, 25). Đây là hành động có tính cách biểu trưng mang tính cánh chung.[35] Qua đó Chúa Giêsu hứa ban cho những ai theo Ngài một sự hiệp thông được canh tân trong Nước Thiên Chúa.[36] Như thế, Chúa Giêsu không chỉ nhìn đến cái chết sắp đến của Ngài, mà còn nhìn cả đến Nước Thiên Chúa sẽ đến cùng với cái chết của Ngài.[37] Nước ấy được ban cho những kẻ được thanh tẩy mọi vết nhơ của tội trong máu Con Chiên.  Nhờ được tha tội, con người bước vào một sự hiện diện mới trong ngày cánh chung, được tham dự vào sự sống đời đời với Thiên Chúa.

  • Hy tế mang lại sự sống đời đời

Đối với Cựu Ước, cái chết là một sự cắt đứt hoàn toàn và vĩnh viễn với người sống cũng như với Thiên Chúa(Tv 87, 5-6; Is 38, 11). Nhưng Chúa Giêsu đã đảo ngược ý nghĩa của sự chết trong Bữa Tiệc Ly. Ngài đã sống trước cái chết của mình, làm cho nó hiện diện trong tấm bánh bẻ ra thành Thịt của Ngài và trong chén rượu đổ ra thành Máu Ngài, và làm cho chính cái chết của mình trở thành hy tế giao ước để mưu ích cho mọi người. Cái chết là hậu quả của tội. Nhưng giờ đây, “Cái chết của Đức Kitô đồng thời vừa là hy lễ Vượt Qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Chiên, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao Ước Mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội.”[38] “Máu của Ngài thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9, 14). Nhờ đó, Ngài đã biến đổi bản tính của con người và làm cho nó xứng đáng bước vào cuộc sống thân tình với Thiên Chúa cho đến muôn đời.

Như vậy, qua hy tế thập giá, Đức Kitô đã thiết lập lại sự tương thông giữa con người với Thiên Chúa. Ngài đã mở đường cho chúng ta đến với Thiên Chúa:“Ta là Đường” (Ga 14, 6). Đây không chỉ là công trình của Ngài để giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi mà còn là công trình để con người cảm nghiệm về sự sống đời đời.

  1. Thánh lễ – Công trình của Đức Kitô

Thánh lễ là hành vi thờ phượng cao cả nhất mà Giáo hội dâng lên Thiên Chúa và là kho tàng ẩn chứa mọi nguồn lực thiêng liêng của Giáo hội. Tuy nhiên, Thánh lễ không phải công trình của Giáo hội mà là của chính Đức Kitô. Nguồn cội của Thánh lễ là bữa Tiệc Ly mà Chúa Giêsu đã cử hành trước khi Ngài đi vào cuộc Khổ Nạn. Mọi hành động của Ngài được hiểu trong bối cảnh cuộc Thương Khó, cái chết và sự Phục Sinh của Ngài.

  • Thánh lễ hiện tại hóa hy tế thập giá của Đức Kitô

Chúa Giêsu, Chúa chúng ta đã tự hiến tế trên Thập giá để cứu chuộc nhân loại. Trong Bữa Tiệc Ly, Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể để tiếp tục Hy tế ấy trên bàn thờ trong mỗi Thánh lễ hôm nay:

Trong bữa Tiệc Ly, vào đêm bị trao nộp, Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã thiết lập Hy tế Tạ ơn bằng chính Mình và Máu Ngài, để nhờ đó hy tế Thập giá được tiếp diễn qua các thời đại cho tới khi Ngài lại đến và đã ủy thác cho Hiền Thê yêu quý của Ngài là Giáo hội của Ngài việc tưởng niệm sự chết và sự phục sinh của Ngài.[39]

Chính Chúa Giêsu đã khẳng định điều đó: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19), và lời ấy không chỉ ở quá khứ nhưng ngay chính thực tại của việc cử hành. Bởi vì Hy tế Thánh Thể không chỉ là một sự tưởng nhớ, mà là sự tái hiện Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô ngay trong hiện tại.[40] Quả vậy, Hội Thánh đã cho thấy biến cố độc nhất này là một sự kiện có thật đã xảy ra trong lịch sử. Khác với những biến cố lịch sử khác, sự kiện này không chỉ tồn tại trong quá khứ rồi biến mất, mà mang ý nghĩa vĩnh cửu vì Đức Kitô đã dùng cái chết của mình để tiêu diệt sự chết. Bất kỳ điều gì Đức Kitô đã thực hiện đều mang tính vĩnh cửu và vượt trên thời gian. Do đó, biến cố Thập Giá và Phục Sinh vẫn luôn hiện hữu, lôi kéo mọi người đến sự sống vĩnh cửu.[41]

Khi cử hành Thánh lễ, Hội Thánh tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, thì cuộc tưởng niệm này trở nên hiện diện: Hy tế mà Đức Kitô dâng lên một lần cho mãi mãi trên thập giá, luôn luôn được hiện tại hóa. “Mỗi lần hy tế thập giá, qua đó ‘Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta’ (1Cr 5, 7), được cử hành trên bàn thờ, thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện.[42]

Trong hy tế thần linh được thực hiện trong Thánh lễ, Hy tế Thập giá và Hy tế Thánh Thể, cùng một Tế Vật được hiến dâng và dâng hy lễ, trong cả hai trường hợp vẫn là cùng một Đức Kitô; nhưng cách thức Ngài tự hiến trên Thập Giá thì khác với cách thức Ngài tự hiến trong Thánh lễ. Trên Thánh Giá Ngài tự hiến chính mình, bằng sự đổ máu ra khỏi Thân Thể Ngài dưới bàn tay của những kẻ hành hình; trên bàn thờ Ngài cũng tự hiến chính mình như vậy, nhưng qua bàn tay và thừa tác vụ của Linh mục mà Ngài được sát tế một cách không đổ máu.[43] Như thế, Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Thánh lễ, công trình của Ngài, mà ban ơn cứu độ cho con người.

  • Đức Kitô hiện diện trong Thánh lễ

Bằng việc đổ máu ra trên Thập giá, Đức Kitô đã mang ơn cứu độ cho nhân loại. Ngày hôm nay, Ngài vẫn tiếp tục sứ mệnh của Ngài qua Hội Thánh, đặc biệt bằng chính sự hiện diện của Ngài qua Thánh lễ.[44]

  • Đức Kitô hiện diện nơi bàn tiệc Thánh Thể

Đức Kitô đã thiết lập Bí tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly để hằng ở lại với con người. Bởi đó, sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể là chính Đức Kitô đã tự hiến trên Thập giá một cách rất đau đớn và đổ máu mình ra. Đức Kitô ấy nay thực sự hiện diện trong Thánh lễ và được sát tế một lần nữa.[45]

Sự hiện diện của Đức Kitô dưới hình bánh hình rượu trong bí tíchThánh Thể là độc nhất vô nhị và vô cùng nhiệm lạ.[46] Thật vậy, trong bí tích Thánh Thể, có sự hiện diện trọn vẹn của Đức Kitô, cả Mình và Máu cùng linh hồn và thần tính của Ngài. Điều này có nghĩa là Ngài hiện diện một cách đích thực, thật sự và theo bản thể. Theo đó, Sự hiện diện này được gọi là ‘thật sự’ không theo nghĩa loại trừ, nghĩa là không coi các hình thức hiện diện khác như không ‘thật sự’, nhưng theo nghĩa đặc biệt. Theo đó, Đức Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện diện một cách chắc chắn nơi bí tích Thánh thể. Sự hiện diện của Đức Kitô bắt đầu từ lúc thánh hiến (quen gọi là lúc truyền phép) và kéo dài bao lâu các hình dạng Thánh Thể còn tồn tại. Đức Kitô hiện diện trọn vẹn trong mỗi hình bánh và rượu, và trong mỗi phần nhỏ của hình bánh và rượu, như vậy việc bẻ bánh không phân chia Đức Kitô.[47]

  • Đức Kitô hiện diện nơi bàn tiệc Lời Chúa

Đức Kitô cũng hiện diện nơi Lời của Ngài: “Ngài hiện diện trong Lời của Ngài, và chính là Ngài đang nói, khi Kinh Thánh được đọc lên trong Hội Thánh.”[48] Bởi đó, bàn Tiệc Lời Chúa cũng được Giáo hội tôn kính như Bàn Tiệc Thánh Thể: “Giáo hội vẫn luôn tôn kính Thánh Kinh giống như tôn kính chính Thánh Thể Chúa, đặc biệt trong Phụng vụ thánh, Giáo hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa Kitô để trao ban cho các tín hữu.”[49] Vì Chúa Giêsu hiện diện nơi Bàn Tiệc Lời Chúa, nên Lời Chúa là lời sống động, hữu hiệu cho con người mọi thời. Ở đó, Chúa Giêsu vẫn không ngừng nói với dân của Ngài về Nước Thiên Chúa, về triều đại cánh chung như chính lúc Ngài bắt đầu công cuộc rao giảng: “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15).

  • Đức Kitô hiện diện nơi Linh mục

Linh mục là họa ảnh của Đức Kitô Tư Tế. Các ngài là những người được tuyển chọn và được thánh hiến nhờ Bí tích Truyền Chức Thánh. Qua đó, Chúa Thánh Thần làm cho các ngài có khả năng hành động trong cương vị của Đức Kitô và là chính Đức Kitô diễn tả và thực hiện mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài.[50] Thánh Gioan Kim Khẩu đã dùng những lời sau đây để chứng thực rằng trong Thánh lễ, chính Đức Kitô, vị Thượng Tế cao cả, là Đấng dâng Hy tế Thánh:

Linh mục chỉ là một thừa tác viên, vì Đấng thánh hóa và biến đổi tế vật chính là Đức Kitô, Đấng trong Bữa Tiệc Ly đã biến đổi bánh thành Thịt của Ngài. Ngài vẫn tiếp tục làm điều đó hôm nay. Vì vậy, hỡi người Kitô hữu, khi bạn thấy một Linh mục ở Bàn Thờ, hãy nghĩ và nhìn thấy bàn tay của Đức Kitô vô hình đối với con mắt phàm nhân.[51]

Bằng những lời lẽ chắc chắn ấy, thánh nhân đã cho biết chính Đức Kitô hiện diện nơi Linh mục để thực hiện hành vi Hiến tế cao cả lên Chúa Cha. Nhờ đó, Hy tế Thánh Thể trở nên có hiệu quả cho ơn ích trong việc cứu chuộc nhân loại mọi lúc mọi thời. Một khía cạnh khác để tin rằng chính Chúa Giêsu hiện diện nơi Linh mục, đó là thân phận yếu đuối mỏng giòn và tội lỗi của người Linh mục. Nếu chính Linh mục tự mình dâng lễ tế thì chắc chắn không thể thanh sạch tinh tuyền để làm đẹp lòng Thiên Chúa và mang lại ơn ích thiêng liêng. Như vậy, để Hy tế đạt được những giá trị cao cả, sự hiện diện của Đức Kitô nơi người Linh mục với chức Thượng Tế cao cả theo phẩm hàm Menkisêđê là thực sự cần thiết. Cũng theo đó, người Linh mục nhờ Đức Kitô, với và trong Đức Kitô, mà dâng lên Chúa Cha của Hiến tế đẹp lòng Người.

  • Đức Kitô hiện diện nơi cộng đoàn

Hội Thánh là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô mà Ngài là Đầu. Việc gắn liền với nhau không thể không đưa đến hệ quả hiện diện cùng nhau, đặc biệt trong việc dâng Hy Tế Thánh Thể. Giáo hội cũng đã dựa vào lời Chúa Giêsu đã hứa: ”Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”(Mt 18, 20) mà khẳng định: “Ngài hiện diện khi Hội Thánh cầu nguyện và hát Thánh Vịnh, như chính Ngài đã hứa.”[52] Nhờ có Đức Kitô, toàn thể Hội Thánh được kết hiệp với lễ tế và lời chuyển cầu của Đức Kitô lên Chúa Cha: “Là Thân Thể của Đức Kitô, Hội Thánh tham dự vào lễ tế của Đức Kitô là Đầu. Cùng với Ngài, Hội Thánh cũng được dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Cha. Hội Thánh hiệp nhất với Đức Kitô để chuyển cầu cho toàn thể nhân loại. Trong Thánh lễ, hy tế của Đức Kitô trở thành hy tế của mọi chi thể trong Thân Thể. Đời sống, lời ca ngợi, đau khổ, kinh nguyện, công việc của các tín hữu đều được kết hợp với Đức Kitô và với lễ dâng toàn hiến của Ngài. Nhờ đó, tất cả có được một giá trị mới. Hy tế của Đức Kitô hiện diện trên bàn thờ đem lại cho muôn thế hệ Kitô hữu khả năng được kết hợp với lễ dâng của Ngài.”[53]

  1. Thánh lễ mang bảo chứng cho hạnh phúc thiên đàng

Thánh lễ là công trình của Chúa Giêsu. Ngài hiện diện nơi công trình ấy cách cụ thể qua Bí tích Thánh Thể, Lời Chúa, Linh mục và toàn thể cộng đoàn. Vì có Đức Kitô, Thánh lễ đảm bảo cho các Kitô hữu hạnh phúc không bao giờ hư nát mai sau. Bởi đó, Thánh lễ còn cho mỗi Kitô hữu hưởng nếm hạnh phúc thiên đàng ngay tại đời này.

  • Thánh lễ thông ban hạnh phúc thiên đàng qua Lời Chúa
  • Lời của Chúa

Lời của Chúa là chính Lời của Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, Lời Chúa không phải là đối tượng của suy lý trừu tưởng nhưng là một sự kiện thực nghiệm. Thiên Chúa trực tiếp nói với những người được đặc ân mà nhất là các ngôn sứ, và qua họ, Ngài nói với dân Ngài và với tất cả mọi người. Về phía những người Chúa ban cho đặc ân ấy, họ ý thức rõ ràng Thiên Chúa nói với họ, Lời Ngài xâm chiếm họ, có thể nói là đi đến chỗ cưỡng bách, đơn cử như trường hợp của ngôn sứ Amos (x. Am 7, 15; 3, 8) hay ngôn sứ Giêrêmia (x. Gr 20, 7tt). Như thế, đối với họ, Lời Chúa là sự kiện tiên quyết xác định ý nghĩa cuộc sống họ. Sự tin cậy của các ngôn sứ đã xác tín sự chân thật cũng như đó chính là Lời của chính Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Hôm nay, lời của Thiên Chúa được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người,[54] được viết ra thành Thánh Kinh dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Như thế, “Thánh Kinh là lời nói của Thiên Chúa, xét như Lời đã được ghi chép dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.”[55]

Chúa Giêsu chính là Lời Thiên Chúa đích thực. Thật vậy, lịch sử cứu độ là một lịch sử luôn gắn liền với Lời của Thiên Chúa. Thuở ban đầu Thiên Chúa hằng phán dạy, dẫn dắt con người qua các tổ phụ, các ngôn sứ, với dân được chọn. Cho đến thời cuối cùng, Thiên Chúa đã nói tất cả ý định của Người qua Người Con (x. Dt 1, 1-2) là Đức Kitô – Ngôi Lời vĩnh cửu, Đấng sẽ soi sáng mọi người, sống giữa loài người và nói cho họ biết những điều kín nhiệm nơi Thiên Chúa (x. Ga 1, 1-18).[56] Vì vậy, Chúa Giêsu chính là Lời sau cùng trọn vẹn, hoàn hảo của mạc khải Thiên Chúa cho con người. Lời ấy mang một giá trị khác biệt với tất cả. Quả thế, Lời ấy không viết thành ngôn ngữ trên giấy, bằng mực, nhưng viết trong tâm hồn ta và dành riêng cho ta. Để con người mọi thời có thể đến được với ơn cứu độ, các sách Tin Mừng đã ghi lại cuộc đời của Chúa Giêsu, về những lời giảng dạy, những việc Ngài làm, để nhờ lắng nghe, tin và thực hành mà được hưởng ơn cứu độ. Mang chứng tích của Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng vì vậy có giá trị trổi vượt và là tâm điểm của Thánh Kinh. Lưu giữ kho tàng lớn lao như thế, Thánh Kinh cũng đã vén mở bức màn cánh chung cho con người nhờ nơi Chúa Giêsu.

  • Lời Chúa vén bức màn tương lai cánh chung

Cuộc sống hôm nay đã là mầu nhiệm huống chi sự sống đời sau. Vì thế, khi chỉ dựa vào sức mình, cái muốn của con người vẫn luôn rơi vào bế tắc cho dù đôi lúc khám phá được điều gì đó mới mẻ. Ngược lại, với Chúa Giêsu, Đấng là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa Cha: “Chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Kitô,”[57] con người mới tìm thấy những gì mình khao khát. Cuộc hiện hữu hôm nay sẽ không đi vào bế tắc, tương lai cánh chung sẽ không còn mờ mịt, nhưng được sáng tỏ trong Chúa Giêsu với chiều hướng con người được ở cùng Thiên Chúa, cùng tham dự vào bản tính của Ngài.

Thật vậy, Chúa Giêsu sẽ cho chúng ta “biết được bí mật của thời gian và bí mật của vĩnh hằng,”[58] vì Ngài xuất phát từ Thiên Chúa: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1, 1), Ngài với Chúa Cha là một: “Tôi với Chúa Cha là một” (Ga 10, 30), không ai có thể nói về Thiên Chúa bằng chính Đấng xuất phát từ Thiên Chúa, và cũng không ai có thể vén lên bức màn cánh chung cho con người chúng ta ngoài Đấng ấy.

Bên cạnh đó, qua cuộc Thương khó – Tử nạn và Phục sinh, Trong Đền Thờ Giêrusalem xưa, nơi cực thánh hay cung chí thánh được một bức màn ngăn cách với căn phòng phía trước. Đây là hình bóng thiên đàng, là nơi cực thánh đích thực, nơi một mình Chúa Giêsu đã tiến vào. Chúng ta tuy còn ở bên này bức màn, nhưng niềm cậy trông của chúng ta đã ở trên trời. Thật vậy, vào giờ Chúa Giêsu trút hơi thở trên thập giá, bức màn ấy đã được mở toang cho con người tiến gần đến Thiên Chúa (Mt 27,51). Cửa thiên đàng được mở toang cho con người. Và cho đến hôm nay, lối vào thiên đàng vẫn luôn mở ra cho con người tiến vào nhờ Lời Chúa nơi Thánh Kinh.

  • Con người tiến về tương lai cánh chung nhờ Lời Chúa

Tuy Chúa Giêsu đã về trời, chúng ta vẫn thấy Chúa Giêsu “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6) nơi Kinh Thánh. Ở đó, Ngài vẫn hằng nói, hằng soi dẫn chúng ta đến với sự sống hạnh phúc đời đời. Không một phương tiện nào nơi trần thế này có thể cho chúng ta đạt đến đích ấy. Một trật, tất cả đều không thể tồn tại với thời gian, không thể đúng ở mọi thời điểm, còn với Lời Chúa thì vững bền vĩnh cửu: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”(Lc 21, 33). Lời Chúa mới là chân lý thật sự: “Thiên Chúa, Đấng đã từng phán dạy, nay vẫn không ngừng ngỏ lời với Hiền Thê của Con yêu dấu mình, và Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho tiếng nói sống động của Tin Mừng vang dội trong Giáo hội và nhờ Giáo hội, làm vang dội trong thế giới, hướng dẫn các tín hữu nhận biết toàn thể chân lý.”[59]

Bên cạnh đó, trên đường tiến về cánh chung, con người ngày càng buộc phải nên giống hình ảnh Thiên Chúa, hay nói cách khác là nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Chúng ta không thể tìm được bất cứ công cụ nào để có thể soi vào mà bắt chước, mà chỉnh sửa để có thể đạt được điều đó, nhưng với Kinh Thánh, con người trần gian có thể nhìn vào để chiêm ngưỡng Thiên Chúa và nên hoàn thiện giống Ngài.[60]

Như thế, Lời Chúa mang đến viễn tưởng tốt đẹp với niềm hy vọng tràn trề về một tương lai cánh chung viên mãn. Với Lời Chúa, con người có quyền vững niềm hy vọng và nhìn mọi việc ở đời này với niềm hy vọng cánh chung: “Chúng ta có thể nhìn các sự việc và các biến cố trong ý nghĩa vĩnh cửu của chúng, theo nghĩa chúng dẫn đường cho chúng ta về quê Trời.”[61] Vì vậy, con người chỉ thêm phần chậm trễ tiến về tương lai cánh chung nếu không biết bám vào Lời Chúa ngay lúc này.

  • Thánh lễ trao ban sự sống đời đời qua Bí tích Thánh Thể

Thánh Thể quy hướng về bữa tiệc cánh chung, báo trước nhờ đức tin và ước ao trong hy vọng. Các bữa tiệc với Chúa Phục sinh đã không làm giảm bớt lòng trông đợi ấy; lễ “bẻ bánh” đã tạo ra một bầu khí hân hoan của sự phục sinh (Cv 2,46), nhưng đồng thời chúng cũng hâm nóng lên niềm mong chờ Chúa trở lại.[62]

  • Thánh Thể đảm bảo hạnh phúc vĩnh cửu

Hội Thánh viết về mầu nhiệm Thánh Thể trong một kinh nguyện cổ xưa như sau: “Nếu bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa, nếu nhờ việc rước lễ tại bàn thờ mà chúng ta được “tràn đầy ân phúc bởi trời”, thì bí tích Thánh Thể cũng là sự tham dự trước vào vinh quang thiên quốc.”[63] Niềm xác tín này khởi đi từ chính lời của Chúa Giêsu: “Ai ăn Thịt tôi và uống Máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Giáo hội vẫn luôn nói lên niềm tin đó trong khi cử hành Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con vừa lãnh nhận Mình và Máu Đức Kitô là bảo chứng ơn cứu độ muôn đời. Xin giúp chúng con vững bước trên con đường đi tới Chúa, để mai ngày được hưởng phúc trường sinh.”[64]

Như vậy, Bí tích Thánh Thể chính là bảo chứng, là dấu chỉ biểu lộ rõ ràng cho niềm hy vọng lớn lao về trời mới đất mới, nơi công lý lưu ngụ chắc chắn, nơi mà không còn hận thù ghen ghét, mối mọt không thể nào đào khoét được. Thật thế, mỗi khi mầu nhiệm này được cử hành, thì “công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện và chúng ta bẻ cùng một tấm bánh, là phương dược trường sinh bất tử và của ăn để chúng ta không chết, nhưng đem lại sự sống muôn đời trong Chúa Giêsu Kitô.[65]

  • Thánh Thể đảm bảo cho sự sống lại

Sự sống lại của mọi người Kitô hữu được đặt trên nền tảng sự phục sinh của Đức Kitô, Đấng đầu tiên trỗi dậy từ cõi chết và làm cho những ai tin vào Ngài cũng được sống lại trong ngày cánh chung(x. 1 Cr 15, 12-34). Theo hình ảnh Đức Kitô, thân xác chúng ta sẽ được biến đổi trong ngày sống lại, trở nên thánh thiêng,  không còn bị sự chết thống trị. Điều đó đòi chúng ta cần lãnh nhận Đức Kitô, mà không gì khác hơn đó chính là Mình và Máu của Ngài nơi Bí tích Thánh Thể. Bởi vì, Đức Kitô hiện diện cách trọn vẹn cả linh hồn và thiên tính của Ngài trong Thánh Thể.[66] Sự hiện diện này là sự hiện diện phục sinh của Chúa. Ngài là sự sống lại của chúng ta. Do đó, chúng ta rước Mình và Máu Chúa thì chúng ta sẽ được sống lại với Ngài: “Ai ăn thịt và uống Máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6, 54). Việc lãnh nhận Bí tích Thánh Thể là bảo chứng chắc chắn cho việc xác con người sẽ sống lại trong tương lai được Giáo hội mọi thời căn cứ vào lời Thánh Kinh xác tín. Thánh Ignatius thành Antiochia đã gọi Bí tích Thánh Thể là “phương dược trường sinh” và “thuốc giúp con người khỏi chết, nhưng luôn sống trong Đức Kitô”. Thánh Irênê thì nói rằng: “Khi thân xác chúng ta đã được chia sẻ với Bí tích Thánh Thể, nó sẽ không bị hư hoại, chỉ vì nó đã có hy vọng vào cuộc phục sinh vĩnh cửu.”[67]

Hơn nữa, Thánh lễ còn diễn tả niềm tin vào sự sống lại qua việc chủ tế và cộng đoàn luôn hợp ý cầu nguyện cho những người còn sống cũng như đã qua đời sớm được hưởng cuộc sống phục sinh trong nước Chúa. Tự bản chất của Thánh lễ, hiệu quả do sự “ex opere operato” đem lại thiện hảo cho các tín hữu kết hiệp với Chúa qua việc hiệp lễ. Hiệu quả do nhân “ex opere operantis”, căn cứ vào việc các Thánh cùng thông công, ân sủng phát sinh nhờ lời cầu nguyện có thể đem lại lợi ích cho kẻ khác, những người còn sống cũng như đã qua đời.[68] Như thế, khi cử hành Thánh Thể, nhờ công nghiệp tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô được dâng trên bàn thờ là bảo chứng vững chắc cho các Kitô hữu được sống lại mai sau.

  • Thánh Thể mang lại hạnh phúc cho người Kitô hữu

Thiên Chúa luôn muốn con người được sống hạnh phúc. Nên khi con người sa ngã nơi vườn địa đàng, Thiên Chúa đã không bỏ rơi nhưng đã hứa ban Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng sẽ lại phục hồi và làm thăng tiến hạnh phúc cho con người. Chúa Giêsu đến trần gian đem hạnh phúc qua con đường bát phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó; phúc thay ai hiền lành; phúc thay ai sầu khổ, phúc thay ai xót thương người…, vì nước trời là của họ” (Mt 5, 1 - 12). Hạnh phúc này trong Cựu Ước được tiên tri Isaia diễn tả là bữa tiệc cánh chung, bữa tiệc mà Thiên Chúa tổ chức trên núi thánh, bữa tiệc với thịt thì béo, rượu thì ngon và mọi người đến tham dự sẽ được uống rượu, uống sữa thỏa thuê không phải trả tiền. Bữa tiệc hoan lạc, khi Thiên Chúa cất khăn tang bao trùm mặt đất; không còn ai phải khóc phải than, mọi người vui mừng hớn hở vì được hạnh phúc dư đầy (x. Is 25, 6 - 10).

Trong Tân ước, Bữa tiệc đem đến niềm hạnh phúc viên mãn của dân Chúa đã được chính Đức Kitô hứa ban khi Ngài trả lời cho dân thành Caphacnaum: “Chính Tôi là Bánh Trường Sinh. Ai đến với Tôi không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6, 35). Như vậy, Đức Kitô là Đấng làm thỏa mãn niềm hạnh phúc của con người. Bữa tiệc diễn tả niềm hạnh phúc mà Thiên Chúa ban cho các Kitô hữu đang diễn ra hằng ngày trong Thánh lễ. Trong đó, Bí tích Thánh Thể chính là bữa tiệc hạnh phúc mà Chúa dọn cho con người: “Bữa tiệc Vượt Qua mới của dân Chúa, mà Đức Kitô, vì yêu mến các môn đệ đến cùng, đã ban cho họ trước khi người chịu chết, để họ cử hành trong ánh sáng phục sinh cho tới khi người lại đến.”[69] Vì thế, khi cử hành Thánh lễ, người tín hữu được nếm hưởng trước hạnh phúc ở trên trời.[70] Ở đó “bạn sẽ vinh quang và hạnh phúc biết bao vì được phép nhìn thấy Chúa, được hân hạnh hưởng niềm vui cứu độ và ánh sáng vĩnh cửu cùng với Chúa Kitô, Thiên Chúa của bạn, … bạn sẽ hưởng niềm vui của sự bất tử cùng với những người công chính và các bạn hữu của Thiên Chúa trong Nước Trời.”[71]

 

CHƯƠNG III

GIÁO HỘI SỐNG CHIỀU KÍCH CÁNH CHUNG QUATHÁNH LỄ

Chúa Giêsu đã trối lại công trình Thánh lễ cho Giáo hội và nhân loại. Ngài muốn con người cần phải hướng về thực tại mai sau chứ không chỉ mải mê với thực tại trần thế. Thấm nhuần giáo huấn của Chúa Giêsu, Giáo hội qua dòng thời gian vẫn bảo tồn và cử hành Thánh lễ theo thánh ý của Ngài, để nhờ việc cử hành Thánh lễ hôm nay, Giáo hội sống mầu nhiệm Vượt Qua của Chiên Thiên Chúa và thông dự vào đời sống mai sau.

  1. Giáo hội lữ hành hiệp thông với Giáo hội Thiên quốc

Trong mầu nhiệm Giáo hội, Chúa Kitô là Đầu và là nguyên lý hiệp nhất của toàn Giáo hội. Giáo hội thiên quốc là những người đã được ở bên Chúa, còn Giáo hội lữ hành vẫn đang tiến bước về với Chúa. Vì thế, trong chiều kích cánh chung, Giáo hội lữ hành và Giáo hội thiên quốc có mối tương quan hiệp thông chặt chẽ với nhau.

  • Giáo hội lữ hành và Giáo hội Thiên quốc

Các Thánh Tông đồ và những người vì Đức Kitô mà phải trải qua bao đau khổ, đã anh dũng hy sinh đổ máu mình ra để minh chứng một lòng trung tín với Chúa. Giáo hội tôn kính các ngài cùng Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh Thiên Thần. Chính vì các ngài được ở bên cung lòng Chúa, nên Giáo hội hằng cầu xin Chúa ban ơn nhờ lời cầu bầu của các ngài:

Vì được gắn bó mật thiết hơn với Đức Kitô, các thánh trên trời củng cố toàn thể Hội Thánh một cách vững chắc hơn trong sự thánh thiện. . . Các ngài không ngừng chuyển cầu với Chúa Cha cho chúng ta, trong khi dâng các công nghiệp các ngài đã lập được nơi trần thế nhờ Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Kitô Giêsu. Nhờ vậy, sự yếu đuối của chúng ta được giúp đỡ rất nhiều bằng sự quan tâm huynh đệ của các ngài.[72]

Bên cạnh đó, Giáo hội còn tôn kính những người đã một lòng sống theo gương khiêm nhường, khó nghèo, khiết trinh và các nhân đức khác của Chúa Giêsu mà đã được Giáo hội thành tâm tôn kính và noi theo.[73]

Như vậy, nhờ vào việc tôn kính các thánh và nhờ lời cầu bầu của các ngài, Giáo hội cho chúng ta thấy rằng Giáo hội thiên quốc và Giáo hội lữ hành có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Mối tương quan này luôn quy hướng và kết thúc nơi Chúa Kitô “là triều thiên của toàn thể các Thánh, và nhờ Ngài, quy hướng và kết thúc nơi Thiên Chúa, Đấng đáng ca tụng và tôn vinh trong các Thánh.”[74] Đặc biệt, trong khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội lữ hành và Giáo hội thiên quốc hiệp nhất với nhau trong lời ca tụng Thiên Chúa.

  • Thánh lễ là mối dây hiệp thông Giáo hội lữ hành và Giáo hội Thiên quốc

Giáo hội thiên quốc và Giáo hội lữ hành tạo thành một Giáo hội duy nhất là thân thể Chúa Kitô. Sự hiệp nhất này dựa vào mối dây liên kết sống động giữa các Kitô hữu và các Thánh trên trời, đáng kể nhất là việc các Thánh cầu bầu cho chúng ta. Tuy nhiên, mối dây tuyệt hảo để Giáo hội thiên quốc và Giáo hội lữ hành hiệp thông với nhau thành Thân Thể Chúa Kitô chính là Thánh Thể khi cử hành Thánh lễ. Thật vậy, khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội lữ hành hiệp thông với cộng đoàn các Thánh trên Thiên Quốc. Nhờ sự hiện diện của Đức Kitô đích thực trong Thánh lễ và quyền năng của Thánh Thần, Giáo hội được liên kết với Ba Ngôi Thiên Chúa, với triều Thần Thiên Quốc, với Đức Maria và các Thánh. Chính khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội nếm hưởng hạnh phúc mai hậu, “là tiền dự vào vinh quang Thiên Quốc, là bảo chứng chắc chắn, và là dấu chỉ tỏ tường về hy vọng một trời mới đất mới nơi công lý ngự trị.”[75]

Như vậy, Thánh lễ nhắc nhở cho Hội Thánh rằng mình cần phải tăng trưởng liên lỉ cho đến sự sung mãn (x. Ep 4, 13), và đồng thời sự sung mãn ấy đã trở thành thực tại mà chúng ta được nếm hưởng một phần. Hơn nữa, nhờ sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô nơi Thánh lễ, chúng ta và Giáo hội trên trời được hiệp nhất với nhau, “ở đó quyền năng Thánh Thần hoạt động trên chúng ta qua các dấu chỉ bí tích, ở đó chúng ta cùng lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa uy linh, và tất cả mọi người thuộc mọi chi tộc, ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia được cứu chuộc trong Máu Chúa Kitô (x. Kh 5, 9), hợp nhau trong một Giáo hội duy nhất, đồng thanh chúc tụng một Thiên Chúa Ba Ngôi.”[76]

Bởi đó, Thánh lễ chúng ta cử hành hằng ngày là dấu chỉ hữu hình cho thấy sự hiệp nhất trọn vẹn giữa chúng ta với Giáo hội thiên quốc nhờ và trong Chúa Kitô. Qua đó, người tín hữu chúng ta xác tín hơn về cuộc sống vinh quang mai sau của mình, vì có Thánh Thể và Lời Chúa là lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và là bảo chứng vững chắc cho chúng ta. Tin vào điều đó, Giáo hội cử hành Thánh lễ trong sự mong ngóng không ngừng ngày Chúa đến trong vinh quang.

  1. Giáo hội mong chờ ngày Chúa đến qua Thánh lễ

Đang khi lữ hành trần thế, Giáo hội vẫn không bao giờ quên hướng về niềm hy vọng đích thực của mình. Cùng với con cái mình, Giáo hội cử hành Thánh lễ hằng ngày để nuôi dưỡng và làm phong nhiêu niềm hy vọng đó. Nỗi khao khát mong chờ ngày Chúa đến vẫn cứ nối tiếp theo dòng thời gian.

  • Thánh lễ hôm nay nối dài Thánh lễ Tiệc ly

Giáo hội qua dòng thời gian, đã cử hành Thánh lễ với một hình thức không thay đổi, dù trải qua nhiều khác biệt lớn về thời đại và các nền phụng vụ, vì chúng ta biết rằng mình bị ràng buộc bởi mệnh lệnh Chúa đã ban trong hôm trước khi Ngài chịu nạn: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19b). Chúng ta chu toàn mệnh lệnh đó, khi chúng ta cử hành việc tưởng niệm Hy Tế của Ngài nơi bàn tiệc Thánh Thể. Với Kinh Tưởng Niệm, “Hội Thánh kính nhớ cuộc khổ nạn, sự phục sinh và sự quang lâm vinh hiển của Đức Kitô Giêsu; Hội Thánh trình lên Chúa Cha hy tế là Con của Ngài, Đấng giao hòa chúng ta với Ngài.”[77]

Sâu xa hơn, Thánh lễ hôm nay thực sự nối dài Thánh lễ Tiệc Ly, bởi vì Hy Tế của Đức Kitô vẫn còn dâng trên bàn thờ mỗi ngày trong chiều kích hiện tại hóa. Trong đó, Chúa Giêsu vẫn hằng dâng lên Chúa Cha lời tạ ơn như khi xưa Ngài đã làm trong Tiệc Ly. Chúng ta thấy đượcviệc tạ ơn trong Thánh lễ vẫn giữ nguyên giá trị của nó qua lời dạy của Giáo hội: “Bí tích ThánhThể là hy tế tạ ơn Chúa Cha, là lời chúc tụng qua đó Hội Thánh diễn tả lòng tri ân của mình đốivới Thiên Chúa vì mọi điều Ngài ban, vì mọi điều Ngài đã thực hiện trong công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa. Bí tích Thánh Thể trước hết có nghĩa là tạ ơn.”[78]

Thánh lễ trở nên đỉnh cao của phụng vụ Giáo hội vì chứa đựng Bí tích Thánh Thể “là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu,”[79] với chính Chúa Giêsu hiện diện và cử hành. Như thế, Thánh lễ hôm nay hay Thánh lễ mai này đều là nối dài của Thánh lễ Tiệc Ly mà Chúa Giêsu đã cử hành hôm xưa. Nhờ đó, Thánh lễ là phương tiện để chúng ta tiến về ngày cánh chung với niềm mong đợi thiết tha được ở bên Chúa.

  • Giáo hội cử hành Thánh lễ trong sự mong chờ Chúa đến

Trong khi lữ hành trần thế, Giáo hội vẫn không ngừng hướng về ngày Chúa Kitô quang lâm trong vinh quang. Niềm mong chờ khát khao ngày ấy vẫn ngày ngày diễn ra đặc biệt quaThánh lễ. Sự mong chờ Chúa đến được nuôi dưỡng trong niềm xác tín rằng phụng vụ dưới đất tham dự vào phụng vụ trên trời:

Trong Phụng vụ dưới đất, chúng ta tham dự và nếm trước Phụng vụ trên trời, được cử hành trong thành đô Giêrusalem, mà chúng ta là lữ khách đang tiến về; ở đó, Chúa Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa như thừa tác viên của cung thánh, của nhà tạm đích thực; Phụng vụ dưới đất là nơi chúng ta hiệp cùng toàn thể đạo binh trên trời đồng thanh ca ngợi tôn vinh Chúa: trong khi kính nhớ các thánh, chúng ta hy vọng được thông phầnvà đoàn tụ với các ngài; chúng ta mong đợi Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cho đến khi Ngài là sự sống của chúng ta sẽ xuất hiện và chúng ta sẽ cùng xuất hiện với Ngài trong vinh quang.[80]

Dù vẫn còn ở trần thế, nhưng nhờ Thánh lễ, Giáo hội đã được hưởng nếm phần nào hạnh phúc Nước Trời. Điều ấy nên động lực và nguồn sức mạnh giúp Giáo hội và mỗi chi thể tiến bước vững chắc giữa thế giới đầy cạm bẫy này.

Niềm mong chờ Chúa đến được diễn tả qua việc tuyên xưng mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu khi cử hành Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”. Mỗi chi thể cùng với Thân Thể là Giáo hội chỉ có thể thưa lên điều đó trong một đức tin mãnh liệt, một xác tín không thay đổi về tất cả mầu nhiệm Vượt Qua cho đến ngày Chúa ngự đến. Như thế, Giáo hội mong chờ Chúa ngự đến không theo cách thụ động nhưng trong một đức tin sinh động. Đức tin ấy được đạt tới đỉnh cao nơi mầu nhiệm Thánh Thể: “Nhờ việc cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta đã được kết hợp vớ iphụng vụ trên trời và tham dự trước vào đời sống vĩnh cửu.”[81] Bằng đức tin đó, Giáo hội tiến về ngày Chúa quang lâm với niềm hân hoan cánh chung: “Bấy giờ, chúng con sẽ được chiêm ngưỡng Cha tường tận, nên muôn đời sẽ được giống như Cha là Thiên Chúa chúng con, và sẽ dâng lời ca ngợi Cha khôn cùng, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.”[82]

Hơn hết, niềm trông chờ Chúa đến của Giáo hội được đặt trong chính ý hướng của Chúa Giêsu. Thế nên, mỗi lần cử hành Bí tích Thánh Thể, Hội Thánh hướng trông “Đấng đang đến” (Kh 1, 4), và Hội Thánh không ngừng kêu cầu Ngài ngự đến: “Marana tha” (1Cr 16, 22), “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22, 20). Cảm nghiệm niềm hạnh phúc lớn lao ngày Chúa đến, Giáo hội cùng với con cái mình phải có tâm tình đúng đắn khi tham dự Thánh lễ, để nhờ đó, mỗi người tiến lại gần hơn với ơn cứu độ.

  1. Giáo hội sống Thánh lễ hôm nay

Thánh lễ là kho tàng quí giá mà Thiên Chúa đã rộng ban, để nhờ việc cử hành sốt mến mà hết thảy sẽ được Người ban ơn. Do đó, với đức tin và ý thức, mỗi thành phần dân Chúa phải cử hành Thánh lễ cho xứng đáng.

  • Kitô hữu nói chung

Bí tích Thánh Thể chính là lương thực thần linh nuôi sống linh hồn chúng ta và cho chúng ta sự sống đời đời. Do đó, các tín hữu phải thường xuyên đón nhận Thánh Thể bằng cách siêng năng tham dự Thánh lễ, vì không có tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên thánh giá. Chúa Giêsu hằng khao khát mời gọi con người đi vào mối tương quan với Ngài để được sống: “Các con hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong các con” (Ga 15, 4). Nhờ Bí tích Thánh Thể, mỗi Kitô hữu không ngừng lớn lên trong đức tin đã được lãnh nhận khi chịu phép Rửa tội. Bởi đó, tất cả các Kitô hữu được mời gọi trở nên thánh, sống một đời sống thánh thiện; và điều này phải được chứng thực ngay trong cuộc sống hiện tại, trong mọi hoàn cảnh hoặc tình trạng sống của mỗi người.

Hơn nữa, chúng ta còn được nuôi dưỡng bởi Bàn Tiệc Lời Chúa: “Dân này là dân Thiên Chúa, được chuộc về bằng giá máu Đức Kitô, được Chúa quy tụ, được Lời Người nuôi dưỡng.”[83] Nhờ Lời Chúa, mỗi tín hữu được chìm đắm trong tình yêu và lòng thương xót củaThiên Chúa. Chúng ta được gần Ngài hơn khi biết lắng nghe với thái độ như cô Maria năm xưa ngồi bên chân Chúa Giêsu. Lời Ngài sẽ soi dẫn cho biết đường ngay nẻo chính, đường đến sự sống: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6). Lời không những đem lại những hiệu quả trong hiện tạimà còn chưa đựng những giá trị vững bền theo thời gian: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những Lời thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Lc 21, 33).

Tuy nhiên, một thực tế đáng lưu tâm là nhiều người xem nhẹ Phụng vụ Lời Chúa, chỉ coi trọng phần Thánh Thể. Điều này dẫn đến thói quen đến trễ, chỉ tham dự từ phần dâng lễ trở đi, hoặc thiếu tập trung khi nghe công bố Lời Chúa. Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh: “Trong phụng vụ, Thiên Chúa nói với dân Ngài và Chúa Kitô vẫn tiếp tục rao giảng Tin Mừng của Ngài.”[84]Thánh lễ là sự kết hợp trọn vẹn giữa Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể, không thể thiếu một trong hai. Lời Chúa nuôi dưỡng đức tin, giúp chúng ta hiểu biết về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và thôi thúc chúng ta sống theo Tin Mừng. Vì thế, mỗi Kitô hữu cần tham dự trọn vẹn Thánh lễ với tâm tình lắng nghe, đón nhận và đáp trả Lời Chúa.

Đặc biệt, Thánh lễ Chúa Nhật là ngày của Chúa, ngày lễ trọng đại nhất trong tuần, là thời khắc đặc biệt để cộng đoàn tín hữu quy tụ và thờ phượng Thiên Chúa. “Đây là ngày Chúa đã làm nên, chúng ta hãy hân hoan mừng rỡ trong ngày ấy” (Tv 118, 24). Dựa trên lời thánh vịnh trên, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc nhở: Niềm vui ấy không chỉ đơn thuần là cảm xúc bề ngoài mà còn là sự tràn đầy hy vọng trong tâm hồn, phản ánh sự ngỡ ngàng và hân hoan của các phụ nữ khi thấy ngôi mộ trống vào sáng Phục Sinh, cũng như niềm vui của các Tông Đồ khi Chúa Phục Sinh hiện ra với họ, ban tặng bình an và Thánh Thần (x. Ga 20, 19-23).[85]

Bên cạnh đó, Thánh lễ không chỉ là một nghi thức tôn giáo, mà còn là cuộc hội họp thiêng liêng của gia đình Kitô hữu. Thánh Phaolô nhấn mạnh rằng “hội họp” trong Thánh lễ không giống như những cuộc tụ họp bình thường, nơi mỗi người có những mục đích riêng, nhưng là sự hiệp nhất trong đức tin và tình yêu (x. 1Cr 11, 17-20). Mỗi người đến tham dự đều là anh chị em trong gia đình của Thiên Chúa, cùng chia sẻ niềm vui, nâng đỡ nhau trong thử thách và cùng nhau dâng lời tạ ơn lên Cha trên trời. Chính Chúa Giêsu đã hứa: “Ở đâu có hai, ba người tụ họp lại nhân danh Thầy, Thầy sẽ ở giữa họ” (Mt 18, 20). Vì vậy, Thánh lễ phải là nơi bày tỏ sự yêu thương và hiệp nhất, không phải là một không gian xa cách hay thờ ơ. Thái độ lạnh lùng, lặng lẽ tham dự rồi vội vàng ra về mà không chào hỏi hay giao tiếp với ai là điều cần tránh.

Thánh lễ không phải là một nghi thức mang tính hình thức mà phải là cuộc gặp gỡ sống động với Thiên Chúa. Mỗi người cần nhìn lại cách mình tham dự Thánh lễ: có thực sự sốt sắng, ý thức và tràn đầy niềm vui không? Hay chỉ tham dự một cách máy móc? Giáo hội mời gọi các tín hữu không ngừng làm mới lại tâm tình khi dâng Thánh lễ, để mỗi lần tham dự là một cơ hội được biến đổi, thêm lòng yêu mến Chúa và anh chị em.

Sau cùng, Thánh lễ là suối nguồn của niềm vui và hy vọng. Khi tham dự với tâm tình sốt sắng, ta không chỉ lãnh nhận ân sủng thiêng liêng mà còn được bồi dưỡng sức mạnh để đối diện với những thử thách trong cuộc sống. Nhờ Thánh lễ, mỗi tín hữu được Thiên Chúa nuôi dưỡng và ban ơn dồi dào, để tiếp tục bước đi trong ánh sáng của Ngài với niềm vui và hy vọng vững vàng.

  • Linh mục nói riêng

Đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu nói chung luôn phải được cắm rễ sâu trong Lời Chúa bằng việc lắng nghe, suy niệm và cầu nguyện với Lời Chúa. Điều đó lại càng đúng và cần thiết hơn đối với một Linh mục, là người có phận vụ mang Chúa đến cho người khác. Bởi các Kitô hữu hy vọng gặp nơi Linh mục chẳng những một con người đón tiếp họ, bằng lòng lắng nghe họ, bày tỏ cho họ một mối thiện cảm nào đó nhưng còn là và nhất là một con người giúp đỡ họ ngắm nhìn Thiên Chúa, tiến đến với Thiên Chúa. Bởi đó, Linh mục cần phải được đào tạo cho có một thâm tình sâu đậm với Thiên Chúa. Để đáp ứng nhu cầu của giáo dân cũng như để có một mối tình thâm sâu với Thiên Chúa, Linh mục phải để đời mình gắn bó với Lời Chúa. Nhờ vậy, mọi lời nói, việc làm, thái độ và những lựa chọn của Linh mục sẽ phù hợp với Tin Mừng. Khi biết ở trong Lời, linh mục mới trở nên môn đệ hoàn hảo, có thể nhận ra thánh ý Thiên Chúa muốn, trở nên tự do và vượt qua được những trởngại, khó khăn trong cuộc đời mình.[86]

Hơn nữa, Lời Chúa chính là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của Linh mục, giúp họ được biến đổi và trở nên hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Công Đồng Vaticanô II khẳng định Lời Chúa củng cố đức tin, soi sáng và hướng dẫn mọi quyết định của đời sống Kitô hữu.[87] Linh mục được mời gọi sống triệt để theo Tin Mừng, noi gương Đức Kitô trong đức vâng phục, khiết tịnh và khó nghèo.[88] Qua đó, Linh mục không chỉ thi hành tác vụ thánh mà còn thể hiện tinh thần mục tử, yêu thương và chăm sóc đoàn chiên bằng cả trái tim của mình.

Nhờ sự thấm nhuần Lời Chúa, Linh mục có thể trở thành chứng nhân đích thực của Tin Mừng giữa đời sống thường ngày. Họ được mời gọi không chỉ giảng dạy Lời Chúa mà còn sống Lời Ngài trong mọi hoàn cảnh, đem ánh sáng Tin Mừng đến với những người họ phục vụ. Chính nhờ Lời Chúa, Linh mục tìm được sức mạnh để trung thành với ơn gọi, sẵn sàng hy sinh và dấn thân phục vụ tha nhân, đặc biệt là những người nghèo khổ và bị bỏ rơi trong xã hội.

Bên cạnh đó, để trở nên đồng hình đổng dạng với Đức Kitô, vị Mục Tử Nhân Lành, Linh mục cũng phải trở nên hy tế cho cuộc đời. Khi vào trần gian, Chúa Giêsu đã tự nguyện vâng phục Chúa Cha, trút bỏ vinh quang từ trời cao, chấp nhận làm thân phận con người, ngoại trừ tội lỗi, trở nên Hiến tế cứu độ con người (Pl 2, 6-8). Ngày qua ngày, Mục Tử Giêsu vẫn luôn tiếp tục lễ hy sinh trên bàn thờ Thánh lễ để trở nên tấm bánh cứu rỗi nhân thế. Bánh Thánh Thể là tấm bánh sẻ chia. Mỗi ngày, linh mục cử hành Thánh Thể và rước lấy Thánh Thể vào mình, vì thế, Linh mục cũng trở thành tấm bánh yêu thương bẻ ra cho mọi người. Chân phước Antoine Chevrier đã rất có lý khi nói “Linh mục là người bị ăn”. Bởi lẽ, như tấm bánh bị bẻ ra sẻ chia cho muôn người, cuộc đời linh mục cũng bị bẻ ra bởi đoàn chiên mà mình phục vụ. Đó là sự hy sinh phục vụ tận tình, chấp nhận để người khác quấy rầy, và không nên biểu lộ một thái độ cau có khó chịu, nóng giận hay nói những lời thiếu tế nhị đối với họ, bất kể đôi lúc bị hiểu lầm, bị đau khổ, chịu sự cô đơn và những cuộc chiến giằng xé nội tâm. Qua việc bị bẻ ra, Linh mục kết hợp với với Hy Tế Thập Giá, quyền năng Chúa sẽ làm cho thân xác của Linh mục trở thành thánh thể như Thầy Chí Thánh Giêsu.[89]

Noi gương Thầy Giêsu, Linh mục hiến tế cuộc đời mình cho tha nhân bằng chính tình yêu của Thầy Giêsu đã yêu nhân loại: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Thánh Augustinô phần nào cảm nghiệm điều đó nên đã nói rằng: “Ai đã yêu thì không còn thấy đau khổ, mà giả có thấy cũng yêu luôn đau khổ.”[90] Mục Tử tốt lành sẽ không ngần ngại khó khăn, không chùn chân lùi bước trước những gian khổ, không tháo lui bỏ cuộc giữa đường, cho dẫu mạng sống của mình bị đe dọa. Trách nhiệm lớn lao của mục tử là sự sống của đoàn chiên. Nếu Hy Tế Thập Giá là thời khắc tuyệt đẹp của Chúa Giêsu hiến dâng Cha, thì trọn đời sống và sứ vụ của linh mục cũng là sự hiến thân phục vụ Chúa trong anh chị em. Bởi đó, noi gương đời sống hiến tế của Mục Tử Giêsu, Linh mục được mời gọi sống hy sinh xuyên qua công việc bổn phận hằng ngày, từ việc cử hành các bí tích nhằm thánh hóa dân Chúa, đến việc quan tâm thăng tiến đời sống đức tin cho tín hữu, cũng như giới thiệu Đức Kitô cho lương dân hiện diện trong địa hạt của mình.

Cuộc đời của người Linh mục là một cuộc cho đi liên tục. Sự cho đi là hình ảnh sống động về một người mục tử theo gương Vị Mục Tử Tối Cao. Tuy nhiên, với sức riêng, Linh mục không tài nào làm được, nhưng chỉ khi kín múc sức mạnh Thánh Thể, đời linh mục mới thực sự trở thành tấm bánh sẻ chia cho muôn người. Khi dâng Thánh lễ với tâm tình sốt sắng, cùng bắt chước tình yêu hiến trao dâng đầy của Thánh Thể, linh mục sẵn sàng tiêu hao đi chính cuộc đời mình vì hạnh phúc của tha nhân.

Sống mầu nhiệm Thánh lễ như thế, Giáo hội không ngừng tôn vinh Chúa và thánh hóa chính mình và cả thế giới. Do đó, Linh mục nói riêng và mọi tín hữu nói chung, đều có bổn phận mang Thánh lễ vào cuộc sống thường ngày, vì lẽ thế giới hôm nay ngày càng bị khủng hoảng về niềm hy vọng hạnh phúc tối hậu.

  • Thánh lễ với cuộc sống thường ngày
  • Thánh lễ đổ tràn niềm hy vọng cánh chung vào cuộc sống

Tất cả mọi cố gắng của con người đều nhắm đến một điều đó là: sống. Con người khao khát được sống hạnh phúc, được sống mãi. Tuy nhiên, họ sẽ chẳng bao giờ tìm được nếu không tìm đến với Chúa Giêsu. Nhà thần học hiện đại Pierre Teilhard de Chardin đã xác định: “Đức Kitô không phải là một phụ khoản người ta cố thêm vào thế giới, một thứ trang trí, một ông vua như chúng ta dựng lên ngày nay, một sở hữu chủ. . . Ngài là Alpha và Ômega, là nguyên lý và là cứu cánh, là viên đá làm nền tảng, là sự viên mãn và là Đấng ban sự viên mãn.”[91] Như vậy,Đức Kitô là nguồn hy vọng cho con người được sống sung mãn, sống mãi. Thánh lễ, công trình của Đức Kitô, với bàn tiệc Thánh Thể và bàn tiệc Lời Chúa, chứa đựng và không ngừng tiên báo về sự sống bất tận, một sự sống canh tân niềm hy vọng của Kitô hữu và khích lệ họ tiến bước mang niềm hy vọng ấy đến trong cuộc sống thường ngày. Được lãnh nhận nguồn mạch sự sống là Đức Kitô khi rước Chúa vào lòng và được Lời Chúa nuôi dưỡng, người Kitô hữu được tham dự sự sống viên mãn mai sau. Do đó, họ là những người mang đầy tràn niềm hy vọng để rồi đưa niềm hy vọng ấy vào cuộc sống thường nhật. Người Kitô hữu trở thành “muối” thành “men” mà Thánh lễ đổ vào cuộc sống thường ngày.

Trong niềm hy vọng cánh chung, mọi thứ sẽ trở thành cầu nối để con người tiến về niềm hạnh phúc vĩnh cửu. Đơn cử, một người có niềm hy vọng sẽ nhìn đau khổ, khó khăn trong một cái nhìn thật khác, như thánh Inhaxiô Loyola đã nói: “Nếu Thiên Chúa để anh em chịu nhiều đau khổ, thìđó là dấu Người đã có những chương trình lớn lao dành cho anh em, và chắc chắn Người muốn biến đổi anh em thành một vị thánh”. Trong cái nhìn hy vọng, chúng ta sẽ nhận ra hoàn cảnh cuộc sống hằng ngày là nơi để ta xây dựng nhân cách. Đó sẽ là cơ hội để ta quét đi những kiêu căng, ích kỷ, oán hờn, ganh đua, . . . và tự làm mới mình bằng những khiêm nhường, yêu thương, kiên nhẫn, mạnh mẽ bước tới và chờ những gì tốt đẹp mà mình ước mong. Đau khổ luôn ẩn giấu hạnh phúc vô bờ. Chính vinh quang thập giá đã đến từ đau khổ. Khó khăn, đau khổ, là cơ hội giúp ta chuẩn bị để đón nhận ân sủng Chúa ban. Vì vậy, việc của ta là hãy đi qua nó và sẵn sàng dâng hiến tất cả.

Tuy nhiên, sống niềm hy vọng cánh chung không phải là sống trên mây, xa rời thực tế, nhưng trong niềm hy vọng cánh chung, chúng ta thăng tiến cuộc sống này. Do đó, “Sự mong chờ hạnh phúc ở thế giới bên kia không làm các tín hữu giảm bớt sự dấn thân kiến tạo thế giới này nên tốt đẹp hơn.”[92] Qua Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, Giáo hội đã mở ra một cái nhìn mới về tương quan giữa đạo với đời, giữa đời sống đạo đức và dấn thân xã hội. Giáo hội không những lo cứu rỗi các linh hồn ở đời sau, mà còn giúp cải thiện đời sống con người ở đời này nữa.Như thế, nhận xét của nhà thần học hiện đại Pierre Teilhard de Chardin thật chính xác: “Điều chính đáng và cho ta thêm vững mạnh, mà đó là việc chúng ta sẽ làm, là ghi nhận rằng các quan niệm của Kitô giáo đáp ứng rất hài hòa điều chúng ta đang kiếm tìm.”[93]

Trong việc bảo trì niềm hy vọng của người Kitô hữu, ngày Chúa Nhật cũng có một vai trò thật đặc biệt. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói:

Chúa Nhật là việc loan báo rằng thờigian , một phạm trù được Người là Vị Chúa Phục Sinh của lịch sử lập cư, không phải là một nấm mộ chôn những ảo tưởng của chúng ta, mà là cái nôi của một tương lai luôn tươi mới, một cơ hội giúp chúng ta biến những giây phút trôi qua của cuộc đời này thành những mầm mống vĩnh hằng. Chúa Nhật là một mời gọi để hướng về phía trước; nó là ngày cộng đồng Kitô Giáo kêu lên cùng Chúa Kitô rằng: ‘Maranatha: Ôi Chúa, xin hãy đến’ (1Cr 16: 22). Bằng lời kêu vang hy vọng và mong đợi này, Giáo hội đồng hành và hỗ trợ niềm hy vọng của nhân loại.[94]

Thực tế cũng cho thấy, ngày Chúa nhật không chỉ đặc biệt với người Kitô hữu nhưng cũng là ngày đặc biệt với toàn thế giới. Ngày khởi nguồn của yêu thương, chăm sóc. Ngày khơi nguồn sức mạnh cho cả một tuần lễ. Bởi đó, Thánh lễ đưa người Kitô hữu vào trong niềm hy vọng Nước Trời thì chính Thánh lễ cũng đưa họ vào thế gian để loan truyền niềm hy vọng ấy. Cho nên, chiều kích cánh chung trong đời sống hiện tại cũng hệ tại ở bổn phận của mỗi Kitô hữu, tùy vào mỗi bậc sống. Người giáo dân có trách nhiệm mang các giá trị Tin Mừng vào thế gian. Họ nên thánh ở trong thế gian, chứ không ra khỏi thế gian. Người tu sĩ cũng không khước từ thế gian vì nó xấu xa, nhưng qua ba lời khấn, các tu sĩ dâng hiến choChúa ba giá trị tích cực: tình yêu hôn nhân, tài sản, tự do tự quyết. Một điểm chung, bậc sống nào cũng được mời gọi mọi người sống đời khiết tịnh vì Nước Trời, đó là một sự hướng về thực tại cánh chung mai sau.[95]

Như vậy, mỗi Kitô hữu luôn được mời gọi xây dựng thế giới này ngày một tốt đẹp hơn để hướng về một trời mới đất mới. Đồng nghĩa với việc mỗi Kitô hữu hãy là những chứng tá đích thực của Chúa Kitô, và niềm hy vọng cánh chung nơi Ngài, một phương thế được coi là hữu hiệu để giúp người tín hữu thực hiện được điều đó chính là việc tham dự Thánh lễ cách đầy đủ và sốt mến. Mỗi sáng, sau khi được tham dự Thánh lễ, trở về với cuộc sống hiện tại, mỗi người Kitô hữu phải sống mầu nhiệm mà họ đã lãnh nhận. Cuộc sống thường ngày khi đó là một sự nối dài Thánh lễ và cũng sẽ trở thành của lễ cùng với Hy Tế của Đức Kitô dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày.

  • Thánh lễ nối dài đến cuộc sống thường ngày

Khi cử hành Thánh lễ, mọi tín hữu còn được qui tụ quanh bàn tiệc Lời Chúa. Họ được nghe chính Chúa nói qua Thánh Kinh, và được linh mục, người thay mặt Chúa hướng dẫn và dạy dỗ sống tốt trong hành trình đức tin của mình. Để rồi mỗi người cùng cất cao lời tung hô trong phần cử hành Thánh Thể: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”. Được nghe Lời Chúa, mỗi tín hữu cũng được Chúa sai đi. Thánh lễ chúng ta cử hành vì thế không là một cử hành khép kín, nhưng là bao hàm sự ra đi đem Tin Mừng vào thế gian theo lời của Chúa Giêsu trước khi về Trời: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19-20). Sự ra đi mang Chúa vào cuộc sống thường nhật, với những sinh hoạt, và những nhu cầu cho cuộc sống của mình trong xã hội. Kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể, các Kitô hữu có bổn phận mangChúa đến cho người khác. Mẹ Hội Thánh đã chúc lành cho công cuộc đó qua lời chúc bình ancủa vị chủ tế “lễ xong chúc anh chị em đi bình an”. Lời chúc này không phải là chúc cho mọingười về bình an, không có tai nạn hay rủi ro nào, nhưng đó là lời chúc muốn cho các tín hữuhãy đem điều mình vừa lãnh nhận là chính Chúa Giêsu, là đức ái đến cho mọi người (x. Ga 20,17; Cv 1, 9-11).

Trong khi hướng về ngày Chúa Kitô quang lâm, mỗi Kitô hữu không quên trở thành chứng nhân cho niềm hy vọng cánh chung mà Thánh lễ mang lại cho toàn nhân loại. Cuộc đời của người mang niềm hy vọng cánh chung vì thế thật khác với phần còn lại. Họ sẽ không còn lo tích trữ, không còn lo sống cho chính mình, không còn bám víu vào hạnh phúc đời này, nhưng trở thành tấm bánh bẻ ra, sẻ chia cho muôn người. Chúa Giêsu Thánh Thể đã chịu bẻ ra cho mỗi tín hữu được rước vào lòng. Ngài chấp nhận nên Hy Tế để cho nhân loại được sống. Thì giờ đây, được mang Chúa Thánh Thể trong lòng, mỗi Kitô hữu cũng biết sống hiến tế cho anh em mình. Như Đức Kitô chịu bẻ ra cho nhân loại được sống, người Kitô hữu cũng trở thành tấm bánh mang lại hạnh phúc cho người khác. Niềm hạnh phúc bây giờ của người tín hữu không gì khác hơn chính là đem hạnh phúc đến cho anh chị em xung qunah mình.

Như vậy, Thánh lễ không chỉ được gói gọn trong một khoảng thời gian nhưng đã được nối dài đến suốt cả ngày sống trong tất cả mọi công việc thường nhật. Mỗi người sẽ không chỉ đặt tâm tình sốt mến trong khi tham dự Thánh lễ mà còn mang cả tâm tình đó vào trong đời thường. Chắc chắn, cuộc sống xung quanh những người Kitô hữu sẽ trở nên tốt đẹp.

  • Cuộc sống thường ngày nên của lễ dâng lên Thiên Chúa trong Thánh lễ

Nhờ hy tế của Đức Kitô, mỗi chi thể trở thành hy tế thiêng liêng trong cuộc đời, không phải là chịu đóng đinh treo thân trên thập giá, mà là hy tế được dệt nên từ đời sống bác ái yêu thương, chấp nhận bào mòn đời mình, chấp nhận thiệt thòi vì niềm hạnh phúc của anh em mình. Những hy sinh dù nhỏ bé thầm lặng, nhưng được gói ghém trong tinh thần phục vụ vô vị lợi và gói trọn với cả tâm tình, góp nên như một của lễ tiến dâng lên Thiên Chúa trong Thánh lễ hằng ngày. Đón lấy ý Chúa để thực thi trong cuộc đời để nên hy tế như chính Chúa Giêsu vâng thánh ý Chúa Cha trong từng phút giây của sứ vụ cho đến hơi thở cuối cùng.

Một khi đặt bước chân theo Thầy Chí Thánh Giêsu để được nên đồng hình đồng dạng với Ngài, người Kitô hữu không thể làm theo cách thức khác Thầy mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ý Chúa thì khác với ý con người, chấp nhận ý Chúa nhiều khi không làm cho mình được thỏa lòng. Tuy nhiên, kinh nghiệm các thánh dạy rằng dẫu cho ý Chúa trái với ý thích của bản thân, nhưng khi đón nhận với lòng tín thác cậy trông, thì ý Chúa trở thành niềm hoan lạc và bình an cho cuộc đời. Cuộc đời mỗi người luôn phải đối diện với biết bao thăng trầm, lắm lúc gặp phải những vấn đề làm quên ăn mất ngủ, và những trăn trở, những nỗi lo âu khắc khoải cứ thế gặm nhấm cuộc đời mình. Nhưng mang trong mình tâm tình thấm đượm từ Thánh lễ, ngày ngày, mỗi người sẽ vui vẻ cùng vác thập giá với Chúa Giêsu lên đồi Golgotha. Con đường mà Thầy Giêsu đã đi qua, cũng chính là nẻo đường người Kitô hữu bước tới. Con đường thập giá ấy là con đường tiến tới vinh quang trong tình yêu và sự hy sinh. Như thế, chúng ta dễ dàng biến thập giá đời mình thành thánh giá. Để đến khi tham dự Thánh lễ, mỗi Kitô hữu ngước mắt lên nhìn Thánh giá của Chúa Giêsu mà thấy được vinh quang của những sự khốn khó mình đã chịu cùng Chúa. Dù cuộc sống có thế nào đi nữa, nhưng với tâm tình của một người con thảo biết lắng nghe Lời Chúa, mỗi Kitô hữu luôn biết dùng cuộc sống của mình mà đáp lại Lời Chúa trong tâmtình tung hô, tán tụng như khi được nghe Lời Chúa trong Thánh lễ.

Mang trong mình sứ vụ loan báo Tin Mừng từ Đức Kitô, người tín hữu cũng phải mang LờiChúa đến cho người khác và chính điều đó là của lễ đẹp lòng Chúa. Mục đích của việc loan báo cũng là hướng về Đức Kitô - sự viên mãn cánh chung. Hướng về điều đó, mỗi Kitô hữu trang bị cho mình những phương tiện khác nhau để có thể thi hành chức năng ngôn sứ mà mình đã lãnh nhận. Thánh lễ với bí tích Thánh Thể và Lời Chúa là những phương tiện hữu hiệu mà Chúa Giêsu ban cho Giáo hội và mỗi tín hữu để sống sứ mạng của mình. Nhờ lời rao giảng và cử hànhcác bí tích, mà trung tâm và tuyệt đỉnh là Bí tích Thánh Thể, hoạt động truyền giáo làm cho Chúa Kitô, Đấng tác thành công trình cứu rỗi, được thực hiện.

 

KẾT LUẬN

Hạnh phúc là điều con người luôn khao khát và kiếm tìm trong cuộc hiện hữu của mình. Nhưng nào ai biết được đâu là hạnh phúc thật và kiếm đâu ra thứ hạnh phúc ấy nếu không từ nơi Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa. Thật vậy, Đức Kitô là Thiên Chúa vượt qua không gian và thời gian nên những gì Người làm đều có tính vĩnh cửu. Do đó, biến cố Thập Giá và Phục Sinh vẫn mãi tồn tại và đưa muôn loài đến sự sống. Tính độc sáng tuyệt đối của Hiến Lễ Ngài dâng, đưa những ai theo Ngài đến một thực tại hoàn toàn mới. Thực tại ấy sẽ hoàn tất trong ngày cánh chung khi Đức Kitô ngự giá mây trời mà đến. Tuy thế, thực tại ấy đã bắt đầu ngay hôm nay cách riêng nơi Thánh lễ, bởi Đức Kitô hiện diện trong Thánh lễ cách đặc biệt nơi Thánh Thể.

Đồng thời, qua Lời Chúa, Ngài cũng đang không ngừng nói với con người. Ngài còn hiện diện nơi vị Linh mục và chính nơi cộng đoàn phụng vụ. Tất cả các thực tại cánh chung đều xoay quanh việc gặp gỡ Đức Kitô, như cha Hans Urs von Balthasar đã nói: “Nếu được Chúa thì là thiên đàng, nếu mất Chúa thì là hỏa ngục”. Để rồi, từ chỗ khám phá Đức Kitô - hạnh phúc thật, người Kitô hữu trở thành mối phúc giữa trần thế này. Nhìn vào công trình Thánh lễ, chúng ta không khỏi thốt lên rằng Thiên Chúa tự do trong việc tạo dựng, Ngài còn liên lụy với con người, liên lụy đến mức phi lý, đến mức điên rồ đối với đầu óc của con người. Tuy nhiên, lòng thương xót không mệt mỏi của Thiên Chúa cần con người đáp trả hầu cho chính họ được cứu độ. Cách cụ thể và thiết thực nhất là việc tham dự Thánh lễ phải được thực hiện cách sốt mến, không trễ nải. Trong đó, mỗi người tham dự Thánh lễ phải thể hiện lòng tôn kính và năng lãnh nhận những ân lực siêu nhiên từ nguồn mạch của bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể. Thánh lễ là sức sống và kho tàng vĩ đại không bao giờ vơi cạn đối với đời sống đức tin của mỗi Kitô hữu.

Thánh lễ cho phép người tín hữu liên kết mật thiết với Đức Kitô. Bàn tiệc Thánh Thể cho phép người tín hữu sống trước cảnh thiên đàng. Nhờ việc rước Thánh Thể, họ được hiệp nhất với Đức Kitô và được nuôi dưỡng bằng tình yêu trao ban và biến đổi của Chúa Ba Ngôi. Thánh Thể nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu, Thánh Thể nối kết toàn vũ trụ với Đức Kitô. Thánh Thể liên kết các Kitô hữu với nhau, và lôi kéo họ đến hiệp thông cánh chung cộng đồng với Chúa, Đấng ban sự sống đời đời cho họ trong Đức Kitô và Chúa Thánh Thần. Như thế, cộng đồng tín hữu xác tín rằng Chúa đang thực hiện ơn cứu độ ngay ở trần gian, qua Bí tích Thánh Thể. Kinh nghiệm này được Giáo hội khẳng định: “Mỗi khi cử hành Thánh Thể, công trình cứu độ chúng ta được thực hiện và chúng ta chia sẻ cùng một tấm bánh là phương dược trường sinhbất tử và của ăn đem lại sự sống đời đời trong Đức Kitô.”[96] Nhờ việc rước Mình và Máu Chúa Kitô phục sinh, các tín hữu đến chia sẻ trong niềm hy vọng sống lại với Ngài, và được thông phần vào sự sống đời đời của Ngài. Chính trong mầu nhiệm này, mọi tín hữu quy tụ quanh bàn tiệc Thánh Thể được gọi là cộng đồng cánh chung, cộng đồng thánh thể vì họ cùng cử hành mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô bằng cách ăn Thịt và uống Máu của Ngài, là của ăn đích thực cho người trần thế hưởng dùng trong khi chờ đợi dự tiệc Nước Trời.

Tuy nhiên, theo lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19-20), cùng ra đi với lời chúc cuối Lễ: “Chúa anh chị em đi bình an”, người Kitô hữu có bổn phận đưa thế giới này hướng đến ngày cánh chung. Chiều kích cánh chung của Thánh lễ trải dài đến cả cuộc sống thường ngày. Thật vậy, mang Chúa Thánh Thể trong mình, được Lời Chúa dạy bảo, với sự trợ giúp của ChúaThánh Thần, mỗi tín hữu tiếp tục sống chiều kích cánh chung của Thánh lễ trong việc rao giảng Tin Mừng. Trong phần kết của hiến chế Vui mừng và Hy vọng, Công đồng cho thấy trách nhiệm lớn lao của những người Kitô hữu là phải xây dựng và dẫn đưa thế giới tới cùng đích: “Không phải những ai nói “lạy Chúa, lạy Chúa” sẽ được vào nước trời, nhưng chỉ có những ai thực hiện ý Chúa Cha (x. Mt 7, 21) và can đảm làm việc. Thực thế, Chúa Cha muốn chúng ta nhìn nhận Chúa Kitô là anh cả trong tất cả mọi người và yêu mến Người cách cụ thể bằng lời nói cũng như bằng việc làm.”[97]

Thánh lễ là thời khắc quan trọng nhất trong ngày sống của người Kitô hữu. Đó là sự khởi đầu cho một hành trình tiến về ngày cánh chung. Hành trình đức tin của người Kitô hữu được kết thúc trong cuộc gặp gỡ thực sự với Đấng phục sinh. Hành trình ấy lại được bắt đầu từ bài học mà Chúa Giêsu đã dạy: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”(Mc 13, 33). Tỉnh thức ở đây nghĩa là ở trong tình yêu, ở trong sự ngay chính, cùng với đó là tìm một cách ứng xử thích đáng hướng về ngày quang lâm bằng những việc: tỉnh thức, cầu nguyện, hăng say trong việc bác ái và cả dấn thân trong công cuộc truyền giáo. Mỗi Kitô hữu còn phải chứng tỏ niềm tin vào các thực tại cánh chung, bằng cách không những không xao lãng những nghĩa vụ xây dựng trần thế mà còn thấm nhuần một động lực dấn thân thiết thực hơn. Trong đó, đời sống của mỗi người phải là đời sống của niềm vui trong niềm hy vọng cánh chung: “Anh em hãy vui lên. . . vì Chúa đã đến gần” (Pl 4, 4-5). Niềm vui này sẽ nâng đỡ tất cả chúng ta vượt những khó khăn vất vả của cuộc sống này, nhất là với những ai đang chịu bách hại. Bởi họ được mời gọi hãy vui lên vì một khi đã chia sẻ sự đau khổ của Đức Kitô, thì chắc chắn cũng được tham dự vào vinh hiển của Người (x. Rm 5, 3-5; x. 2Cr 1, 3-7; x. Rm 8, 18; x. 1Pr 4, 13).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Kinh Thánh và Huấn Quyền

Kinh Thánh Cựu Ước Và Tân Ước.Lời Chúa Cho Mọi Người.Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2007.

Sách giáo lý của Hội Thánh Công giáo.Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển ngữ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2017.

Công đồng Vatican II.Hiến chếPhụng vụ thánh (Sacrosanctum Concilium – SC), 04/12/1963.Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Hà Nội: NXB Tôn Giáo,2012.

. Hiến chếTín Lý về Mạc khải của Thiên Chúa (Dei Verbum – DV), 18/11/1965. Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2012.

. Hiến chếTín Lý vềGiáo hội(Lumen Gentium),21/11/1964. Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hà Nội: NXB Tôn Giáo,2012.

. Hiến chếMục vụ vềGiáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes – GS), 07/12/1965.Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hà Nội: NXB Tôn Giáo,2012.

GioanPhaolô II.Tông thư Ngày của Chúa(Dies Domini – DD), 31/05/1998.http://huangiao.com/index.php/van-kien/duc-giao-hoang/tong-thu/item/1187-tong-thu-dies-domini-ngay-cua-chua-cua-dgh-gioan-phaolo-ii-ngay-31-05-1998.

. Tông huấn Đời sống thánh hiến(Vita Consecrata – VC), 25/3/1996.

. Tông huấnđào tạo Linh mục trong hoàn cảnh hiện nay(Pastores Dabo Vobis – PDV), 25/3/1992.

Bênêđictô XVI.Thông điệpĐược cứu rỗi trong niềm hy vọng (Spe Salvi - SS), 30/11/2007. Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tintrực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2008. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thong-diep-spe-salvi-ve-niem-hy-vong-kito-giao-18551.

. Tông Huấn Bí tích Tình yêu (Sacramentum Caritatis – SC), 20/02/2007.Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam. https://hocvienthanhthe.com/tong-huan-hau-thuong-hoi-dong-giam-muc.

Phanxicô.Sắc chỉ Hy vọng không làm thất vọng (Spes Non Confundit), 09/05/2024.Bản dịch Việt ngữ của Vatican News tiếng Việt.Hiệu đính một phần của Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/spes-non-confundit-hy-vong-khong-lam-that-vong---sac-chi-cong-bo-nam-thanh-thuong-le-2025.

 

  1. Sách

Bộ giáo sĩ, Kim chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục, Ấn bản năm 2013. Bản dịch của Ủy ban Giáo sĩ – Chủng sinh. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2014.

Bùi Văn Đọc.Thần Học về Bí tích Thánh Thể.Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2009.

Cochem, Martinus Von.The Holy Sacrifice of the Mass explained:Giải thích Hy tế Thánh Thể.Văn Thuấn – Quang Vũ chuyển ngữ.Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2010.

Kitô học qua các tác giả, dịch theo Christologie của KARL-HEINZ OHLIG.Graz Wien Köln, Verlag Styria, 1991.

Kasper,Walter.Chúa Giêsu.Phạm Xuân Uyển chuyển ngữ. Đồng Nai: NXB Đồng Nai.

Nguyễn Văn Trinh.Thần Học Hy Vọng.Hà Nội:NXB Tôn Giáo.

Nguyễn Văn Tuyên.Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2011.

Ott, Ludwig. Tín Lý, Tập II.Nguyễn Văn Trinh chuyển ngữ. ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn, 2003.

Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng.Cánh Chung Học. Học Viện Liên Dòng Thánh Tôma, Tp. Hồ Chính Minh, 2004.

Phan Tấn Thành.Đời Sống Tâm Linh III.NXB Phương Đông, 2015.

Qui chế tổng quát sách lễ Rôma. Ấn bản thứ ba, 2002.Ủy Ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2009.

Sách Lễ Rôma, Ấn Bản Mẫu Thứ 2.Ủy Ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, 1992.

Schillebeeckx, Edward. Jesus: An Experiment in Christology. Seabury: New York, 1979.

Trần Minh Huy. Linh mục giáo phận như lòng mong ước. Hà Nội:NXB Tôn Giáo, 2013.

Vũ Chí Hỷ. Cánh chung học: Đạo Lý về niềm Hy Vọng Kitô Giáo. Học Viện Công Giáo, 2022

Y Phan.Danh ngôn các thánh.Hà Nội:NXB Tôn Giáo, 2009.

  1. Tạp chí chuyên đề

Battocchio, Riccardo. “Đời sống vĩnh cửu trong  Kinh Thánh và Truyền thống.” Thời sự Thần học số 75 (02/2017): 156-175.

Cervera, Jesús Castellano. “Cánh chung và Phụng vụ.” Thời sự Thần học số 69 (8/2015): 109-141.

  1. Websites

Vũ Chí Hỷ. “Hướng đến sự phục hồi chiều kích cánh chung của bí tích thánh thể.”Truy cập ngày 18/02/2025.http://www.ghhv.quetroi.net/65NTRONGDA/65NTRONGDAHuongDenPhucHoiChieuKichCanhChung02.htm.

 

[1] x. Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng, Cánh chung học (Học Viện Liên Dòng Thánh Tôma Tp. Hồ Chính Minh, 2004),1-2.

[2] Joseph Ratzinger, Chết và sự sống đời sau, Phạm Hồng Lam chuyển ngữ (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2023), 1.

[3] Peter C. Phan, Roman Catholic Theology in The Oxford Handbook of Eschatology (New York: Oxford University Press, 2008), 215.

[4] Các bản văn Kinh Thánh sẽ dùng bản dịch Kinh Thánh ấn bản 2011 của Nhóm PDCGKPV.

[5] x. Peter C. Phan, Giải Đáp 101 Câu Hỏi Về Cái Chết Và Sự Sống Vĩnh Hằng, Nguyễn Thị Sang chuyển dịch (Đồng Nai: NXB Đồng Nai, 2018),  32.

[6] Từ Eschatologia mới xuất hiện từ thế kỷ XVII, do nhà thần học tin lành Abraham Calov (+1686) và được quảng bá vào thế kỷ XIX bên thần học Tin Lành nhờ ông Friedrich Schleiermacher (+1834).

[7] x. Peter C. Phan, Giải Đáp 101 Câu Hỏi Về Cái Chết Và Sự Sống Vĩnh Hằng, 15.

[8] x. Vũ Chí Hỷ, Cánh chung học: Đạo lý về niềm hy vọng Kitô giáo (Học viện Công giáo, 2022), 7-10.

[9] x. Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 8-9.

[10]x. Riccardo Battocchio, “Đời sống vĩnh cửu trong Kinh Thánh và Truyền thống,” Thời sự Thần học số 75 (02/2017): 156-175

[11] x. Riccardo Battocchio, “Đời sống vĩnh cửu trong  Kinh Thánh và Truyền thống,” 156-175.

[12] x. Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 218 – 219.

[13] Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 220.

[14] x.Riccardo Battocchio, “Đời sống vĩnh cửu trong  Kinh Thánh và Truyền thống,” 156-175.

[15]Hai lần khác: cảm nghiệm xuất thần của thánh Phaolô (2Cr 12, 2-3) và sách Khải Huyền (Kh 2, 7).

[16] x. Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 222.

[17] x.Riccardo Battocchio, “Đời sống vĩnh cửu trong  Kinh Thánh và Truyền thống,” 156-175.

[18]Sách giáo lý Hội Thánh Công giáo (SGLHTCG),Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển ngữ (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2017), 1025.

[19] Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 71.

[20]x. Phan Tấn Thành và Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, 67-70.

[21]x. Ibid., 72-76.

[22]Bênêđictô XVI, Thông điệp Được cứu rỗi trong niềm hy vọng (Spe Salvi - SS), 30/11/2007, bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2008, số 30.

[23]SS 31.

[24] x. Nguyễn Văn Trinh, Thần học hy vọng (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2009), 158.

[25]x. Ibid., 158.

[26] Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh III (NXB Phương Đông, 2015), 218.

[27] Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linhIII, 218.

[28]Công đồng Vatican II. Hiến chế Phụng vụ thánh (Sacrosanctum Concilium – SC), bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), số 47.

[29] Bênêđictô XVI, Tông Huấn Bí tích Tình yêu (Sacramentum Caritatis – SC), 20/02/2007,bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 31.

[30]x. Bênêđictô XVI, SC 31.

[31]SGLHTCG 617.

[32]SGLHTCG 618.

[33]Martinus Von Cochem,The Holy Sacrifice of the Mass explained: Giải thích Hy tế Thánh Thể, Văn Thuấn – Quang Vũ chuyển ngữ (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2010), 193.

[34] x. Nguyễn Văn Tuyên, Tin Mừng Nước Thiên Chúa (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2011), 129.

[35] x. Walter Kasper, Đức Giêsu, Phạm Xuân Uyển chuyển ngữ (Đồng Nai: NXB Đồng Nai), 220.

[36]x. Edward Schillebeeckx, Jesus: An Experiment in Christology (Seabury: New York, 1979), 308.

[37] x. Walter Kasper, Đức Giêsu, 220.

[38]SGLHTCG613.

[39]SC 47.

[40]x. Bộ Giáo sĩ, Kim chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục, bản dịch của Ủy ban Giáo sĩ – Chủng sinh (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2014), số 66.

[41] x. SGLHTCG 1085.

[42]SGLHTCG 1364.

[43] x. Martinus Von Cochem,The Holy Sacrifice of the Mass explained: Giải thích Hy tế Thánh Thể, 124.

[44] x. SC 7.

[45]x. Martinus Von Cochem,The Holy Sacrifice of the Mass explained: Giải thích Hy tế Thánh Thể, 194.

[46]x. SC 7.

[47] x. SGLHTCG1374 - 1377

[48]SC 7.

[49] Công đồng Vatican II, Hiến chế Tín Lý về Mạc khải của Thiên Chúa (Dei Verbum – DV),18/11/1965, bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 21.

[50] x. SGLHTCG 1085.

[51]Martinus Von Cochem,The Holy Sacrifice of the Mass explained: Giải thích Hy tế Thánh Thể, 52.

[52]SC 7.

[53]SGLHTCG1368.

[54]DV 13.

[55]Ibid., 9.

[56] x. Ibid., 2-4.

[57]Ibid., 2.

[58] GioanPhaolô II, Tông thư Ngày của Chúa (Dies Domini – DD), 31/05/1998, số 7.

[59]DV 8.

[60] x. DV7.

[61]SGLHTCG 117.

[62] x. Về ý nghĩa cánh chung của Thánh Thể, xem Y. De Montcheuil, Signification eschatologique du repas eucharistique, in: Revue des sciences religiouses 33 (1946), 10-43. P. Spagnoli, Eucaristia ed escatologia in: AA.VV., (L’Eucaristia: Treviso 1963), 61-89.

[63]SGLHTCG 1402.

[64] Sách Lễ Rôma, Ấn Bản Mẫu Thứ 3, 2002, Lời Nguyện Hiệp Lễ, Thứ 6 Sau Chúa Nhật Thứ II Mùa Chay.

[65]x.SGLHTCG 1405.

[66] x. SGLHTCG 1374.

[67] Ludwig Ott, Tín Lý Tập II, Nguyễn Văn Trinh chuyển ngữ (ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn, 2003), 288

[68]x. Ludwig Ott, Tín Lý Tập II, 288

[69] Bùi Văn Đọc, Thần học về bí tích Thánh Thể (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2009), 138-139.

[70] x. SC 8.

[71] Cypriano, Epistula 58, 10: CSEL 3/2, 665 (56, 10: PL 4, 367 - 368).

[72]SGLHTCG 956.

[73]x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín Lý về Giáo hội (Lumen Gentium – LG), 21/11/1964,bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 50.

[74] Ibid., 50.

[75]SGLHTCG 1405.

[76]LG 49.

[77]SGLHTCG 1354.

[78]SGLHTCG 1360.

[79]LG 11.

[80]SC 8.

[81]SGLHTCG 1326.

[82]SGLHTCG 1404.

[83]Quy chế tổng quát sách lễ Rôma, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2009, số 5.

[84]SC 33.

[85] x. DD 1.

[86]x. Gioan Phaolô II, Tông huấn đào tạo Linh mục trong hoàn cảnh hiện nay (Pastores Dabo Vobis – PDV), 25/3/1992, số 26.

[87]x. DV 21.

[88]x. PDV 27.

[89]x. Trần Minh Huy, Linh mục giáo phận như lòng mong ước (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2013), 124.

[90] Y Phan, Danh ngôn các thánh (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2009), 139.

[91]Kitô học qua các tác giả, Tập 2, dịch theo Christologie của KARL-HEINZ OHLIG (Graz Wien Köln: Verlag Styria, 1991), 209-210.

[92] Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes – GS), 07/12/1965, bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 39.

[93]Kitô học qua các tác giả, Tập 2, 209.

[94]DD 84.

[95]x. SGLHTCG 2348.

[96]SGLHTCG 1405.

[97]GS 93.